Thứ Ba, 6 tháng 1, 2015

Lời Chúa: Thứ Tư sau lễ Hiển Linh năm B. 07.01.2015

Thánh Rây-mun-đô, linh mục
PHÚC ÂM:   Mc 6,45-52
“Các ông thấy Đức Giê-su đi trên mặt biển.”
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
45 Sau khi cho năm ngàn người được ăn no nê, lập tức, Đức Giê-su bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, về phía thành Bết-xai-đa, trong lúc Người giải tán đám đông. 46 Sau khi cho họ đi, Người lên núi cầu nguyện. 47 Chiều đến, chiếc thuyền đang ở giữa biển hồ, chỉ còn một mình Người ở trên đất. 48 Người thấy các ông phải vất vả chèo chống vì gió ngược, nên vào khoảng canh tư đêm ấy, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông, và Người định vượt các ông. 49 Nhưng khi các ông thấy Người đi trên mặt biển, lại tưởng là ma, thì la lên. 50 Quả thế, tất cả các ông đều nhìn thấy Người và đều hoảng hốt. Lập tức, Người bảo các ông : “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ !” 51 Người lên thuyền với các ông, và gió lặng. Các ông cảm thấy bàng hoàng sửng sốt, 52 vì các ông đã không hiểu phép lạ bánh hoá nhiều : lòng các ông còn chai đá !
Suy niệm:

Ngay lúc này đây nếu Chúa hỏi mỗi người chúng ta có tin Chúa là Thiên Chúa, là Đấng quyền năng có thể làm được mọi sự hay không? Chắc hẳn nhiều người Kitô hữu chúng ta sẽ trả lời ngon lành là "tin". Đó chỉ là niềm tin lý thuyết.         
Nhưng khi trở về với cuộc sống thực tế, đối diện với biết bao khó khăn thử thách, thử hỏi có mấy ai áp dụng và sống những gì mình tin? Có lẽ là ít lắm! Các Tông đồ xưa kia cũng vậy. Họ theo Chúa, họ tin Chúa Giêsu là Thiên Chúa, tin Chúa Giêsu có thể làm được mọi sự; nhưng thực tế câu chuyện trong bài Tin Mừng hôm nay thì trái ngược hẳn. Khi thấy Chúa Giêsu đi trên mặt biển thì các ông cuống cuồng lên vì sợ hãi, dù mới trước đó các ông chứng kiến phép lạ cả thể của Chúa Giêsu.       
Từ đó chúng ta thấy có hai loại niềm tin: niềm tin lý thuyết và niềm tin thực hành; lý thuyết thì hay lắm, vững chắc lắm; còn thực hành thì dở ẹc, yếu ớt. Và đó cũng chính là thực trạng chung của đại đa số Kitô hữu chúng ta.
Ở một nơi khác trong Tin Mừng Thánh Matthêu, sau khi các môn đệ không thể chữa cho đứa bé bị bệnh phong, Chúa Giêsu nói: “Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: "Rời khỏi đây, qua bên kia!" nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được" (Mt 17,20). Ý Chúa Giêsu muốn nói, mọi sự đều có thể đối với những ai có lòng tin. Nhưng có một thắc mắc nhỏ là, sao Chúa Giêsu không dùng những hạt khác để so sánh mà lại dùng hạt cải, là loại hạt nhỏ nhất so với các hạt? Lẽ dĩ nhiên, đức tin không có một hình dạng, nhưng khi dùng hình ảnh một loại hạt nhỏ nhất như hạt cải thì ý Chúa muốn nói đức tin của chúng ta quá nhỏ bé, quá mong manh.
Nhìn lại đời sống, dường như mọi vấn đề đều hệ tại ở đức tin; hay nói cách khác, nếu chúng ta có đức tin vững vàng thì mọi vấn đề trong đời sống sẽ được giải quyết một cách dễ dàng. Tại sao tôi buồn, tại sao tôi chán nản? Tại sao tôi phạm tội? tại sao tôi chưa được biến đổi nhiều? Thưa, bởi vì tôi chưa tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa; bởi vì tôi chưa tin vào phần thưởng mà Chúa hứa ban cho tôi trong sự sống đời sau; bởi vì tôi kém tin, tôi tin chưa đủ, hay chỉ tin nửa vời.
Xin đưa ra một kinh nghiệm cụ thể, nếu tôi tin Chúa hiện diện khắp mọi nơi thì làm sao tôi dám lừa gạt, làm sao tôi dám phạm tội, làm sao tôi dám....? và nếu tôi không tin Chúa Giêsu thì làm sao tin sự hiện diện của Chúa nơi Thánh Thể? Nếu tôi không tin sự hiện diện của Chúa nơi Thánh Thể, thì làm sao tôi tin sự hiện diện của Chúa nơi cuộc sống, nơi những gì tôi gặp gỡ tiếp xúc hằng ngày?
Con người sợ nhiều thứ trong cuộc đời: sợ mất những gì đang sở hữu, sợ đau vì phải chịu đủ thứ bệnh tật, sợ ma quỉ, sợ chết, và sợ bị Thiên Chúa phạt. Những nỗi sợ hãi này làm con người trở nên nhát đảm, không dám sống và làm chứng cho sự thật. Sợ hãi tự nó không xấu, nhưng nếu sau khi được thuyết phục bởi lý trí không nên sợ, mà con người vẫn sợ, lúc đó sợ hãi trở thành tội. Khi nào con người không còn sợ hãi nữa, lúc đó con người mới thực sự biết sống.
Các Bải Đọc hôm nay xoay quanh tình yêu và sợ hãi.
Trong Bài Đọc I, Thánh Gioan quả quyết: “Tình yêu hoàn hảo loại trừ sự sợ hãi.” Nếu con người thực sự tin vào tình yêu Thiên Chúa, con người sẽ không sợ hãi bất cứ điều gì, vì Thiên Chúa hằng yêu thương, quan tâm, và săn sóc mọi sự cho con người.
Trong Phúc Âm, các môn đệ sợ bị chìm thuyền vì gió bão, các ông sợ vì có người đi cạnh thuyền như bóng ma; nhưng Chúa Giêsu củng cố niềm tin của các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”

Sống Lời Chúa:
Sợ hãi là khuynh hướng tự nhiên của con người; nhưng tình yêu Thiên Chúa sẽ giúp chúng ta vượt qua mọi sợ hãi trong cuộc đời, để có thể sống bình an và đạt được ý nghĩa của cuộc sống.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, Xin Chúa ban cho mọi thành viên trong gia đình chúng con được tràn đầy ơn Chúa để sống yêu thương và phục vụ nhau.

Lẽ sống:
33 năm sau

Với tựa đề "33 năm sau", đó là một câu chuyện thuật lại như sau: "Những gì đã xảy ra cho đứa bé năm nào?". Một trong ba vua đã đi triều bái vua Do Thái mới sinh tự hỏi. Suốt cuộc đời mình, nhà vua không thể nào quên được cuộc hành trình cách đây khoảng 33 năm, một cuộc hành trình dõi theo ánh sáng sao lạ dẫn ông đến hang đá Bêlem.
Câu hỏi: "Liệu đứa bé ấy có trị vì dân Israel được không?". Làm cho nhà vua bồn chồn đứng ngồi không yên. Rồi chẳng dừng được, một lần nữa nhà Vua quyết định lên đường đi đến Palestine. Tại Giêrusalem, những bậc bô lão còn nhớ đến những vì sao lạ, nhưng không ai biết gì đến đứa bé được sinh ra dưới điềm lạ ấy. Còn tại Bêlem mọi người được hỏi đều lắc đầu, ngoại trừ một cụ già cho nhà Vua biết: Làm gì có ông Giêsu Bêlem, chỉ có ông Giêsu Nagiarét, một người nói phạm thượng tự xưng mình là Con Thiên Chúa, nên cách đây mấy tuần đã bị xử "tử hình thập giá".
Thất vọng ê trề, nhà Vua thẫn thờ nhập vào đoàn những người hành hương trở lại Giêrusalem, vào đúng ngày Lễ Ngũ Tuần. Chen lấn vào đoàn lũ đang mừng lễ Tạ Ơn Sau Mùa Gặt, nhà Vua chú ý đến một đám đông đang bu quanh một nhóm người. Tò mò ông lấn qua đám đông để đến gần và nghe có kẻ nói: "Tưởng gì chứ lại gặp mấy tên say rượu nói tầm xàm".
Nhưng tai nhà Vua lại nghe một người trong nhóm nói tiếng nước mình và rõ ràng ông ta nói về ông Giêsu Nagiarét, người đã bị đóng đinh, nhưng đã được Thiên Chúa cho sống lại từ cõi chết. Như bị một sức mạnh vô hình thúc đẩy, nhà Vua chen vào đám đông cất tiếng hỏi: "Vậy bây giờ ông Giêsu đó ở đâu?". Ðại diện nhóm người đứng ở giữa đám đông là Simon Phêrô trả lời: "Ngài đang ở giữa chúng tôi. Ngài đang ở trong chúng tôi. Chúng tôi là môi miệng, là tai mắt, là đôi tay, là đôi chân của Ngài".

Trong lúc Phêrô đang nói, bỗng có một luồng gió thổi mạnh và hình lưỡi lửa một lần nữa thổi tràn xuống mọi người. Nhà Vua bỗng lại thấy ánh sao Bêlem, nhưng lần này ánh sao ấy chia ra nhiều ánh sao khác rơi xuống mọi người. Trong tâm hồn, nhà Vua chợt hiểu: Mỗi người phải trở nên máng cỏ nơi Ðức Giêsu sinh ra và mỗi người phải mang Ngài đến cho mọi người xung quanh.
Câu chuyện trên nối liền ý nghĩa của Lễ Giáng Sinh, mừng biến cố Ngôi Lời nhập thể với Lễ Tưởng Niệm Biến Cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Ðồng thời câu chuyện cũng nêu nổi bật bổn phận của mọi người Kitô, là những kẻ phải trở nên tai mắt, trở nên môi miệng và chân tay của Ðức Kitô để mang Tin Mừng của Ngài đến cho mọi người chúng ta gặp gỡ và cộng tác hằng ngày.


Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

Lời Chúa: Thứ Ba sau lễ Hiển Linh năm B. 06.01.2015

PHÚC ÂM:   Mc 6,34-44
“Khi hoá bánh ra nhiều, Đức Giê-su tỏ mình là ngôn sứ.”
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
34 Khi ấy, Đức Giê-su thấy một đoàn người đông đảo, thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều. 35 Vì bấy giờ đã khá muộn, các môn đệ đến gần Người và thưa : “Nơi đây hoang vắng và giờ đã khá muộn. 36 Xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua gì ăn.” 37 Người đáp : “Chính anh em hãy cho họ ăn đi !” Các ông nói với Người : “Chúng con phải đi mua tới hai trăm quan tiền bánh mà cho họ ăn sao ?” 38 Người bảo các ông : “Anh em có mấy cái bánh ? Đi coi xem !”. Khi biết rồi, các ông thưa : “Có năm cái bánh và hai con cá.” 39 Người ra lệnh cho các ông bảo mọi người ngồi thành từng nhóm trên cỏ xanh. 40 Họ ngồi xuống thành từng đám, chỗ thì một trăm, chỗ thì năm mươi. 41 Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ bánh ra, trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho dân chúng. Người cũng chia hai con cá cho mọi người. 42 Ai nấy đều ăn và được no nê. 43 Người ta thu lại những mẩu bánh được mười hai thúng đầy, cùng với cá còn dư. 44 Số người ăn bánh là năm ngàn người đàn ông.
Suy niệm:

Phép lạ mà Chúa Giêsu thực hiện trong bài Tin Mừng hôm nay chắc hẳn là quá quen thuộc đối với mỗi người chúng ta. Nó quen thuộc không chỉ vì được ghi lại trong cả 4 sách Tin Mừng, mà còn vì phép lạ này liên hệ chặt chẽ với Bí Tích Thánh Thể, với Thánh Lễ mà chúng ta cử hành ngày hôm nay. Thực vậy, phép lạ hóa bánh ra nhiều là hình ảnh báo trước cho Bí Tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu thiết lập trong buổi tiệc ly. Và phép lạ này thực sự vẫn luôn được tiếp diễn hằng ngày, hằng giờ qua các Thánh Lễ được cử hành trên khắp thế giới.
Có rất nhiều điều để chúng ta có thể chia sẻ trong phép lạ này nhưng chỉ xin dừng lại ở một chi tiết nằm ở ngay đoạn đầu tiên của bài Tin Mừng, đó là sự “chạnh lòng thương” của Chúa Giêsu: “Ra khỏi thuyền, Ðức Giêsu thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều” (Mc 6, 34).
Khi nhìn lên thì chúng ta thấy mình không bằng ai, nhưng khi nhìn xuống thì thấy không ai bằng mình. Tôi được may mắn đến với những giáo xứ nghèo, quê mùa, nên thấy rõ điều đó. Họ không chỉ nghèo về vật chất mà còn nghèo về tinh thần nữa, để rồi nghèo cứ nghèo, ngóc đầu lên không nổi. Cái nghèo có khi không do họ, nhưng do hoàn cảnh quá khó khăn, thiếu thốn, để rồi đưa họ đến số phận như thế.
Chắn hẳn khi chứng kiến những hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, những khó khăn vất vả và đau thương ai cũng sẽ phải chạnh lòng thương. Thế nhưng, đằng sau cái “chạnh lòng thương” đó là gì mới quan trọng. Đứng trước biết bao cảnh đời khó khăn, chúng ta dễ có ý nghĩ, một mình tôi thì làm được gì. Chúng ta cứ muốn đòi phải làm cái gì đó lớn lao, hoành tráng, mọi người thấy; nhặt 1 cọng rác thì có thấm gì đâu so với con đường đầy rác. Đó là suy nghĩ của con người chúng ta.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu không chỉ “chạnh lòng thương”, mà cái “chạnh lòng thường” của Ngài còn đưa đến hành động cụ thể. Ngài dạy dỗ họ và chữa lành những người bệnh hoạn tật nguyền. Ngài không để cho họ tự tìm thức ăn. Ngài bảo các môn đệ rằng: "Anh em hãy cho họ ăn". Và Ngài đã thực hiện một phép lạ để cho họ ăn no nê từ năm chiếc bánh và hai con cá.
 “Một con chim én không làm nên mùa xuân”, nhưng ít ra nó cũng là dấu chỉ báo hiệu mùa xuân đang đến. Thật vậy, sự cố gắng của chúng ta hay một vài cá nhân nào đó thiết nghĩ không thể đem thế giới này trở lại tình trạng tốt đẹp ban đầu; nhưng sự cố gắng đó cũng làm nên những dấu chỉ của niềm hy vọng thế giới sẽ được biến đổi cách nào đó mà chỉ có Chúa mới biết. Cũng vậy, 5 chiếc bánh và 2 con cá chẳng là gì so với hơn 5000 người đàn ông; nhưng với Chúa thì không gì là không thể. Và ngày hôm nay, qua Bí Tích Thánh Thể, Ngài nuôi sống linh hồn của toàn thế giới.

Sống Lời Chúa:
Mỗi hành động yêu thương của chúng ta dành cho tha nhân, cũng chính là sự quan phòng của Chúa dành cho họ; qua chúng ta mà Chúa đến với con người, nhất là những người nghèo khổ.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, trong thế giới ngày hôm nay, vẫn còn biết bao cảnh đời khó khăn gian khổ, họ đang cần đến chúng con, xin cho chúng con trở nên những cánh tay nối dài của Chúa, biết trao ban cho người khác những gì mà chúng con đã được nhận lãnh; và sẵn sàng chia sẻ mọi thứ mà chúng con có.

Lẽ sống:
Vị vua thứ tư

Hôm nay lễ Ba Vua. Phúc Âm chỉ nhắc đến ba vị vua. Thế nhưng văn sĩ Joergernen người Ðan Mạch thì lại tưởng tượng ra một vị vua thứ tư. Vị vua thứ tư này đến chầu Chúa Giêsu sau ba vị vua khác. Triều bái Hài Nhi Giêsu nhưng mặt ông tiu nghỉu bởi vì ông không còn gì để dâng tặng Ngài.
Trước khi lên đường, ông chọn ba viên ngọc quý nhất trong kho tàng của ông, thế nhưng dọc đường gặp bất cứ ai xin, ông cũng mang ra tặng hết. Người thứ nhất mà ông đã gặp là một cụ già rét run vì lạnh. Ðộng lòng trắc ẩn, ông đã tặng cho cụ viên ngọc thứ nhất. Ði thêm một đoạn đường nữa, ông gặp một toán lính đang làm nhục một cô gái. Ông đành mang viên ngọc thứ hai ra thương lượng với chúng để chuộc lại cô gái. Cuối cùng khi tiến vào địa hạt Bêlem, ông gặp một người lính do vua Herôđê sai đi để tàn sát các hài nhi trong một ngôi làng lân cận. Vị vua thứ tư đành phải rút ra viên ngọc cuối cùng để tặng cho người lính và thuyết phục anh từ bỏ ý định gian ác.
Tìm được Hài Nhi Giêsu, vị vua thứ tư chỉ còn hai bàn tay trắng. Ông bối rối kể lại cuộc hành trình của mình.
Nghe xong câu chuyện, Hài Nhi Giêsu mỉm cười đưa bàn tay bé nhỏ ra đón nhận quà tặng của ông. Nó không phải là vàng bạc châu báu, nhưng là tấm lòng vàng được dệt bằng những nghĩa cử đối với tha nhân, nhất là những người túng thiếu, đói khổ, những người cần giúp đỡ.
Mùa Giáng Sinh là mùa của những bất ngờ. Bất ngờ của một Thiên Chúa hóa thân làm người. Bất ngờ của một thiên Chúa giáng hạ trong hang súc vật. Bất ngờ sự việc những người nghèo hèn nhất trong xã hội đã nhận ra Tin Mừng. Bất ngờ của những người dân ngoại tìm đến triều bái Vua các vua. Nhưng điều khiến con người sẽ không bao giờ ngờ đến: đó là Ðấng Thiên Chúa hóa thân làm người ấy lại tự đồng hóa với mỗi một con người sinh ra trên cõi đời này, nhất là những con người bé mọn nhất trong xã hội. Ngài đã nói: tất cả những gì các người làm cho một trong những kẻ bé mọn nhất là các người làm cho chính Ta. Từ đây, người ta chỉ có thể gặp gỡ được Ngài qua tha nhân. Tất cả những gì người ta làm cho tha nhân là làm cho chính Ngài. Lễ dâng làm đẹp lòng Ngài nhất chính là những gì người ta trao tặng cho tha nhân, nhất là những người nghèo hèn túng thiếu hay bất cứ ai cần sự giúp đỡ.


Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

Lời Chúa: Thứ Hai sau lễ Hiển Linh năm B. 05.01.2015

PHÚC ÂM:   Mt 4,12-17.23-25
“Nước Trời đã đến gần.”
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
12 Khi ấy, Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. 13 Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, 14 để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói : 15 Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại ! 16 Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.
17 Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”
23 Thế rồi Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân. 24 Danh tiếng Người đồn ra khắp xứ Xy-ri. Thiên hạ đem đến cho Người mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền : những kẻ bị quỷ ám, kinh phong, bại liệt ; và Người đã chữa họ. 25 Từ miền Ga-li-lê, vùng Thập Tỉnh, thành Giê-ru-sa-lem, miền Giu-đê và vùng bên kia sông Gio-đan, dân chúng lũ lượt kéo đến đi theo Người.
Suy niệm:

Mỗi Kitô hữu khi chịu phép Rửa Tội được Chúa và Giáo Hội trao cho một sứ mạng cao cả, sứ mạng đó chính là Truyền Giáo, là rao giảng Tin Mừng. Khi nói đến vấn đề truyền giáo thì đối với người giáo dân xem như là điều gì đó rất mơ hồ, mông lung; thậm chí là xa vời; dẫu biết rằng, chúng ta vẫn thường được nghe nói, được nhắc nhở đến việc truyền giáo, phương pháp truyền giáo. Và có lẽ không ít người trong chúng ta sẽ cho rằng công việc đó chẳng có liên hệ gì đến mình, nhưng là việc của các tu sĩ. Đó là suy nghĩ rất thiếu sót. Chúng ta tự coi mình là những bông lúa, còn thợ gặt là ai đó, chứ không phải mình, mà cụ thể là các cha, các thầy, các sơ.
Tin Mừng hôm nay gián tiếp cho chúng ta biết rằng, sứ mạng Truyền Giáo là sứ mạng chung của mọi Kitô hữu, khi thuật lại việc Chúa Giêsu chọn Galilê làm cứ điểm đầu tiên trong hoạt động truyền giáo của Ngài. Theo nguyên nghĩa chữ Galilê là bất cứ miền nào trong xứ. Do đó, hàm ý là Nước Thiên Chúa không còn hạn hẹp đóng khung trong một địa dư nào. Đặc biệt hơn, Galilê thời Chúa Giêsu là miền có nhiều thổ dân khác nhau, có nhiều tôn giáo khác nhau sống bên nhau. Galilê còn là nơi giao thoa, là ngã tư của nhiều dân ngoại tới giao thương trao đổi. Và có thể nói một cách nào đó Galilê như một thế giới thu hẹp, là một thứ tượng trưng cho nhân loại rộng lớn mà Chúa Giêsu sẽ trao phó cho Giáo hội phổ quát của Ngài mai sau này.
Công đồng Vaticano II cũng long trọng khẳng định: “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo”. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng quả quyết: “không một ai trong những người tin vào Đức Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn khỏi trách vụ cao cả này: Đó là loan báo Tin mừng Đức Kitô cho mọi dân tộc”.
Thật vậy, qua Bí tích Rửa tội, Kitô hữu được Thiên Chúa và Giáo Hội trao cho một ngọn đuốc thiêng liêng, vừa có vai trò soi đường cho họ đi, cũng vừa có vai trò soi đường cho người khác đến với Chúa. Nhưng khi nhìn lại hành trình theo Chúa của mỗi người, có những lúc ngọn đuốc thiêng liêng này đã bị tắt ngủm lúc nào không hay; ngay chính chúng ta cũng đi trong bóng tối thì nói gì đến việc soi sáng cho người khác.
Từ đó vai trò truyền giáo của người giáo dân là vô cùng quan trọng. Vì cuộc sống, người giáo dân có thể có mặt khắp nơi và có thể tiếp xúc với mọi thành phần trong xã hội. Do đó, chính người giáo dân mới là người đầu tiên giới thiệu Đức Kitô cho anh chị em của mình. Chúng ta chẳng cần phải làm gì to tát, chẳng cần phải khua chiêng đánh trống nhưng chỉ cần sống đúng vai trò của mình, một Kitô hữu, một người thuộc về Chúa Kitô. Thực tế là ngoài lý do trở lại đạo vì hôn nhân, có rất nhiều người khác đã trở lại vì một người bạn công giáo tốt, hoặc vì thấy lối sống của một người công giáo nào đó đã làm cho họ phải suy nghĩ và trở lại.
Thật vậy, một đời sống đạo đức, chân thành, cởi mở, yêu thương là một tấm gương sáng trước mặt mọi người. Một đời sống tốt đẹp có sức lôi cuốn hơn những lời nói hay, vì “Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo", con người luôn muốn nhìn thấy những bằng chứng cụ thể hơn là lý thuyết, đúng như lời của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI: "Con người ngày nay cần những chứng nhân hơn thầy dạy".




Sống Lời Chúa:
Xin Chúa cho mỗi người chúng con ngày càng ý thức hơn vai trò và sứ mạng của mình trong việc mở mang nước Chúa qua việc truyền giáo. Và khi thi hành sứ mạng ấy, dù thành công hay thất bại, xin cho chúng con luôn biết khiêm tốn trở về bên Chúa, tin tưởng và phó thác vào Ngài.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con nhận ra Chúa, đến với Chúa và bước đi bên Chúa, để con được Chúa dìu dắt và nâng đỡ, để cuộc đời con được Chúa biến đổi và nâng cao.

Lẽ sống:
Chiếc áo rách

Một linh sư Ấn giáo nọ rất hài lòng về sự tiến bộ của người đệ tử. Nhận thấy rằng người đệ tử không cần đến sự dìu dắt của ông nữa, cho nên ông mới bỏ mặc anh trong túp lều tranh rách nát bên cạnh một bờ sông. Một buổi sáng, khi thức dậy, người đệ tử xuống dòng sông thanh tẩy theo đúng nghi thức, rồi giặt chiếc áo rách rưới của mình. Ðây là tài sản duy nhất của anh ta.
Ngày nọ, anh đau đớn vô cùng khi nhận ra chiếc áo phơi ở bờ sông đã bị chuột cắn tả tơi. Không còn cách nào nữa, người đệ tử đành phải vào làng gõ cửa để xin một chiếc áo khác. Cái áo lần nữa cũng bị chuột gặm nát. Anh mới xin được một con mèo. Lần này anh khỏi phải lo lắng về mấy con chuột nữa. Nhưng không xin áo mặc, thì người đệ tử cũng phải xin cơm, bánh mà thôi.
Ngày ngày phải vác bị đi khất thực, người đệ tử cảm thấy mình như một thứ gánh nặng đối với dân làng. Nghĩ thế, cho nên anh mới tìm cách tậu cho bằng được một con bò để lấy vốn làm ăn. Nhưng có bò thì cũng phải có cỏ cho bò ăn. Những ngày đầu, anh còn tự mình cắt cỏ cho bò ăn. Về lâu về dài, nhận thấy không còn thì giờ cho sự cầu nguyện nữa, cho nên anh đành phải thuê người cắt cỏ cho bò. Bò càng ngày càng sinh sản ra nhiều, người cắt cỏ cũng phải gia tăng. Không mấy chốc, mảnh đất xung quanh túp lều của anh đã biến thành một nông trại. Con người đã một thời muốn bỏ đi tất cả mọi sự để trở thành một tu sĩ nay nghiễm nhiên trở thành một chủ nông trại giàu có. Có tiền, có mọi sự, cho nên anh cũng muốn có người chia sẻ công việc của anh. Anh đành phải cưới vợ. Và không mấy chốc, anh đã trở thành một trong những chủ nông trại giàu có nhất trong làng.
Vài năm sau, khi có dịp trở lại thăm ngôi làng cũ, vị linh sư đã một thời dẫn dắt anh, ngạc nhiên vô cùng vì thay cho túp lều nghèo nàn bên bờ sông, nay là cả một cơ nghiệp đồ sộ. Dò hỏi được tung tích của người chủ nông trại, vị linh sư mới lên tiếng hỏi người đệ tử của mình: "Thế này nghĩa là gì hả con?". Người đệ tử mới trả lời: "Có lẽ thầy không tin. Nhưng tất cả cơ nghiệp này hiện hữu là cũng chỉ vì con đã không làm cách nào để giữ được chiếc áo rách".
Vì chén cơm manh áo, người ta có thể đánh mất lý tưởng của mình. Vì chén cơm manh áo, người ta có thể chà đạp phẩm giá của mình cũng như của người khác. Vì chén cơm manh áo, người ta có thể chối bỏ niềm tin của mình. Ðó là mối hiểm nguy mà bất cứ ai cũng có thể rơi vào.
Ðầu một Năm Mới, tiến thêm một bước trong cuộc hành trình đức tin, chúng ta hãy xin Chúa ban thêm sáng suốt để thấy được bậc thang giá trị trong cuộc sống của chúng ta. Xin Ngài ban thêm can đảm để trong khi mưu cầu của cải vật chất, chúng ta có đủ sức khước từ mọi hành động bất chánh, mọi thỏa hiệp với lừa đảo, gian trá. Xin Ngài ban thêm lòng quảng đại để chúng ta biết mở rộng quả tim và đôi bàn tay để chia sớt, để san sẻ với mọi người khốn khổ.


Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

Lời Chúa: Chúa Nhật Mùa Thường Niên. Năm B. 04.01.2015

CHÚA HIỂN LINH - lễ trọng
PHÚC ÂM:   Mt 2,1-12
“Từ phương Đông chúng tôi đến bái lạy Người.”
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
1 Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem, 2 và hỏi : “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu ? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” 3 Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. 4 Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu. 5 Họ trả lời : “Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng : 6 Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời.”
7 Bấy giờ vua Hê-rô-đê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. 8 Rồi vua phái các vị ấy đi Bê-lem và dặn rằng : “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.” 9 Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. 10 Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. 11 Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. 12 Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hê-rô-đê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.
Suy niệm
Thành tâm thiện chí sẽ gặp Chúa

Lễ Hiển Linh là lễ Chúa tỏ mình ra. Việc Chúa sinh ra được loan báo cho mọi người biết dưới nhiều hình thức khác nhau như: lời các ngôn sứ loan báo từ nhiều thế kỷ trước, đạo binh thiên thần ca hát, ngôi sao lạ xuất hiện… Tuy nhiên không phải ai cũng gặp được Chúa.
những người không gặp Chúa, dù biết rõ những chỉ dẫn về Người.
Đó là những kinh sư, biệt phái. Họ hiểu biết Thánh Kinh. Khi ba nhà đạo sĩ đến hỏi thăm, họ đã đọc vanh vách lời ngôn sứ loan báo Đấng Cứu Thế sinh ra tại Bêlem. Nhưng họ không gặp được Chúa, vì họ hiểu biết lý thuyết mà không thực hành. Ngồi một chỗ mà không chịu lên đường. Chỉ chú ý tới chữ nghĩa sách vở mà không chú ý tới cuộc sống con người. Chỉ tìm trong sách vở mà không tìm những dấu chỉ trong đời thường.
Đó là Hêrôđê. Bạo vương này muốn tìm Chúa nhưng không gặp Chúa, dù ông có binh hùng tướng mạnh trong tay. Ông không gặp Chúa vì ông tìm Chúa không phải vì Chúa mà vì quyền lợi của ông. Ông tìm Chúa không phải để thờ lạy nhưng để giết chết. Ông tìm Chúa không phải để tôn vinh Chúa nhưng để tôn vinh bản thân. Ông tìm Chúa không phải để làm theo ý Chúa nhưng để bắt Chúa phải theo ý ông. Vì thế Chúa đã vượt thoát khỏi tầm tay của ông. Vĩnh viễn ông không gặp được Chúa.
Những người xem ra gần gũi nhất, hiểu biết nhất, có phương tiện nhất đã không gặp được Chúa. Trái lại, những người có vẻ nghèo hèn, thiếu thốn phương tiện, xa xôi cách trở lại gặp được Chúa. Đó là các mục đồng và đặc biệt ba nhà đạo sĩ mà ta nhớ đến trong thánh lễ hôm nay.
Họ đã gặp Chúa vì họ đã lên đường. Dù không biết lời tiên tri loan báo, không biết lời hứa, không thuộc Thánh Kinh, nhưng khi thấy ngôi sao lạ, họ đã lên đường ngay tức khắc. Lên đường nói lên thái độ ngoan ngoãn tuân theo ơn Chúa soi sáng. Lên đường nói lên thái độ dấn thân. Lên đường nói lên lòng cương quyết đi tìm. Lên đường là chấp nhận gian khổ để đạt được điều mơ ước.
Họ lên đường và đã gặp Chúa vì lòng họ khao khát. Khao khát chân lý nên đêm đêm họ không ngừng quan sát bầu trời tìm kiếm ánh sao, vì thế cả một bầu trời bao la, chỉ một ánh sao lạ xuất hiện, họ đã nhận biết. Khao khát chân lý nên khi Chúa vừa tỏ mình qua dấu hiệu ngôi sao, họ đã vội vã theo sát dấu ánh sao đi tìm. Khao khát gặp Chúa nên khi ánh sao vụt biến mất, họ đã không nản lòng, quyết tâm dò hỏi cho ra.
Họ đã gặp Chúa vì tâm hồn họ đơn sơ thành thực. Đi tìm Chúa chứ không tìm bản thân. Đi tìm Chúa để thỏa lòng khao khát chân lý chứ không để thỏa mãn những tham vọng đen tối. Đi tìm Chúa để thờ lạy Chúa chứ không vì lợi lộc cá nhân. Với tâm hồn đơn sơ, họ đã nhận ra ý Chúa, dù ý Chúa chỉ nhẹ nhàng qua một ánh sao. Với tâm hồn đơn sơ, họ đã nhận ra chính Chúa, dù Chúa có ẩn thân dưới hình dáng một em bé yếu ớt nghèo nàn, trong khung cảnh rất tồi tàn của chuồng bò hôi hám.
Đời sống đạo của tôi cũng là một cuộc đi tìm Chúa. Tôi sẽ chỉ gặp được Chúa nếu tôi noi gương ba vua, có tâm hồn đơn sơ thành thực, có lòng khao khát Chúa vì chính Chúa, và dám dấn thân thực hành những điều Chúa truyền dạy, đặc biệt là giới răn bác ái, phục vụ Chúa trong những anh em nghèo khổ.
ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường lối của Chúa.

Lẽ sống:
"Trăm năm bia đá thì mòn,
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ"

Nhà độc tài nào sau khi ra đi cũng trở thành bia cho không biết bao nhiêu những lời đàm tiếu của thiên hạ. Năm 1986, người ta nói đến trên 3,000 đôi giày đã trở thành bảo tàng viện của bà Imelda Marcos, phu nhân của cựu tổng thống Phi Luật Tân, ông Ferdinand Marcos. Sau đó, người ta lại bàn tán về những đôi giày của bà Elena, vợ của nhà độc tài Ceaucescu bị hành quyết tại Rumani.
Khi vợ chồng của cựu tổng thống Marcos bị bắt buộc phải bỏ nước Phi, dân chúng đã tuôn đến dinh tổng thống như một ngày hội: họ đến đó chỉ để xót xa so sánh cái cảnh giàu sang quá mức của gia đình nhà độc tài với cái đói khổ mạt rệp của dân chúng. Người dân Phi nói rằng, trong 9 năm liền, bà Imelda Marcos chỉ có thể mang một đôi giày không quá 3 lần là cùng. Sau khi hành quyết vợ chồng Ceaucescu, người ta mới khám phá ra rằng căn nhà mà họ cho là bình thường của họ chính là một biệt thự sang trọng với 40 phòng khác nhau được trang trí bằng những bức tranh đắt giá, phòng tắm được khảm bằng vàng. Mỗi phòng đều có truyền hình và máy video.
Tài sản của ông Ceaucescu cũng không thua kém gì những của cải biển lận của ông Noriega, cựu tổng thống bị truất phế của Panama. Ông tướng này không chỉ có những căn nhà lộng lẫy trong nước, mà còn không biết bao nhiêu biệt thự tại Pháp và các nước khác. Máy bay và những chuyến du thuyền của ông không còn là những phương tiện để di chuyển, mà là cả một thú sưu tầm.
Không có một nhà độc tài nào mà không tham lam tiền của. Người ta nói đến hàng tỷ Ðôla của ông Marcos. Nhà độc tài của một nước nghèo nàn như Haiti cũng có đến 400 triệu Mỹ kim. Somoza, người bị lật đổ tại Nicaragua, thì có đến hàng trăm triệu Ðô la đầu tư vào những kinh doanh đồi trụy như đĩ điếm, cờ bạc. Cựu hoàng đế Pokassa của một nước nghèo nàn lạc hậu như Cộng Hòa Trung Phi bên Phi Châu, đã làm lễ đăng quang năm 1976 với một phí tổn là 20 triệu Mỹ kim. Và hiện nay, người ta ước tính tài sản của tổng thống Zaire là ông Mobutu Sese Seko lên đến gần 5 tỷ Mỹ kim.
Giá của những tài sản bất chính ấy thường giống nhau: một cuộc lưu vong nhục nhã, một cuộc chốn chạy không kèn không trống, một cuộc hành quyết dã man hay một cuộc sống trong lo sợ từng ngày và làm mục tiêu cho những oán ghét.
Mỗi dịp đầu năm, dường như ai cũng muốn làm một quyết tâm. 50% người Hoa Kỳ quyết tâm giảm thiểu sự ăn uống để gìn giữ sức khỏe.
Ðối với người Kitô chúng ta, sức khỏe tinh thần, sự cường tráng tâm linh có lẽ là điều quan trọng hơn cả. Quyết tâm của chúng ta phải là quyết tâm điều chỉnh lại sự lựa chọn cơ bản của chúng ta. Ðâu là cùng đích của cuộc sống chúng ta? Ðâu là lý tưởng của chúng ta? Ðâu là giá trị cao cả nhất trong cuộc sống của chúng ta? Tiền bạc và nhất là tiền bạc bất chính có đem lại hạnh phúc cho đời Người không?


Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

Lời Chúa: Thứ Bảy đầu tháng trước Lễ Hiển Linh, năm B. 03.01.2015

Danh Thánh Chúa Giê-su
PHÚC ÂM:   Ga 1,29-34
“Đây là Chiên Thiên Chúa.”
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
29  Hôm sau, khi ông Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói : “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian. 30 Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng : Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.
31 Tôi đã không biết Người, nhưng tôi đến làm phép rửa trong nước để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en.” 32 Ông Gio-an còn làm chứng : “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. 33 Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi : ‘Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.’ 34 Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”
Suy niệm:
Gioan Tẩy Giả đã giới thiệu Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội cho trần gian. Sở dĩ Chúa Giêsu được nhiều người đương thời tin nhận cũng là nhờ lời chứng mạnh mẽ đó của ông. Lời chứng của Gioan nhắc nhở ta hôm nay nhớ đến sứ vụ loan báo Tin Mừng của mọi tín hữu. Thực vậy, khi lãnh bí tích thánh tẩy, chúng ta trở nên người môn đệ nhà truyền giáo được Chúa chọn, sai đi dọn đường cho Chúa đến với anh chị em. Chúa muốn mượn miệng lưỡi, đôi tay, đôi chân, con tim và khối óc của ta để có thể giới thiệu, diễn tả lòng Chúa yêu thương cứu độ cho những con người thời đại hôm nay. Để là dụng cụ đắc lực ấy của Chúa, ta đừng bao giờ tự mãn cho rằng mình đã sống đạo lâu năm, biết rõ về Chúa, giáo lý về Ngài. Trái lại, cần phải siêng năng tìm hiểu, học biết giáo lý và Lời Chúa, để có thể hiểu đúng về Chúa, rồi diễn đạt niềm tin bằng một đời sống chứng tá tốt đẹp như ông Gioan đã làm.

Sống Lời Chúa:
Qua bí tích rửa tội chúng ta được vinh dự làm con Thiên Chúa. Xin cho chúng ta ý thức sống bổn phận làm con Chúa bằng cách đặt trọn niềm tin tưởng vào Chúa vì Ngài là Cha hằng yêu thương chúng ta; biết sẵn sàng lắng nghe và làm theo sự hướng dẫn của Chúa; nhất là biết nỗ lực loại trừ mọi tính hư nết xấu nơi bản thân mình, ngõ hầu danh Chúa, người Cha của chúng ta được cả sáng và được vinh danh bởi đời sống tốt lành của chúng ta.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giê-su, xin cho lời con tuyên xưng "Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian" trong thánh lễ là lời đáng tin, vì cũng được tuyên xưng trong cuộc sống đời thường qua một cuộc đời yêu thương, vui tươi, quảng đại, hy sinh trước mặt mọi người chung quanh.

Lẽ sống:
Bí quyết hạnh phúc

Trong một chương trình truyền hình Mỹ, người ta phỏng vấn một cụ già, tuổi hạc rất cao. Người ta đặt câu hỏi như sau: "Thưa cụ, chắc cụ có một bí quyết đặc biệt để được hạnh phúc?"
Cụ già trả lời một cách đơn sơ như sau: "Không, tôi chẳng có bí quyết nào gọi là đặc biệt cả. Trái lại, nó rất đơn giản như chiếc mũi trên mặt ông vậy!". Cụ già giải thích như sau: "Mỗi buổi sáng mai, lúc thức dậy, tôi có hai điều chọn lựa, một là sống hạnh phúc, hai là sống bất hạnh. Ông nghĩ xem, tôi sẽ chọn điều nào? Dĩ nhiên tôi phải chọn được hạnh phúc".
Câu trả lời trên đây của cụ già thật đơn giản. Abraham Lincol đã nói như sau:
"Con người sở dĩ có được hạnh phúc, sung sướng hay không cũng tại lòng tưởng nghĩ như vậy". Bạn có thể hạnh phúc, nếu bạn muốn như thế. Ðó là điều dễ thực hiện nhất trên đời. Bạn hãy chọn lựa sự bất hạnh. Ði đến đâu bạn cũng than thân trách phận, chắc chắn bạn sẽ được như ý.
Nhưng nếu lúc nào bạn cũng tự nhủ rằng: "Mọi việc đều tốt đẹp, đời vẫn đẹp và đáng sống. Tôi chọn sống hạnh phúc", thì chắc chắn bạn sẽ được điều bạn muốn.
Trẻ con rành về nghệ thuật sống hạnh phúc hơn người lớn. Trẻ em mang vào giấc ngủ của mình vô số những mộng mơ và chúng cũng thức giấc với vô số những mộng ước, trong đó cơ bản nhất vẫn là được vui chơi.
Người lớn mà có được một tinh thần như trẻ thơ lúc tráng niên và vào tuổi già, thì quả là một thiên tài, vì họ nắm được niềm hạnh phúc thật trong tâm hồn mà Chúa đã dành để cho tuổi thanh xuân. Chúa Giêsu quả là tế nhị khi Ngài nói với chúng ta rằng cần phải có tinh thần trẻ thơ thì mới vào được Nước Trời. Nước Trời là gì nếu không phải là được sống hoan lạc trong tình yêu thương của Chúa.