Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2016

Lời Chúa: Thứ Hai 25.04.2016 TUẦN V PHỤC SINH – Năm C

Thánh Mác-cô, tác giả sách Tin Mừng
Thánh Marcô là cháu của thánh Barnaba. Người đã đi theo thánh tông đồ Phaolô trong hành trình truyền giáo lần thứ nhất, và theo đến tận Rôma. Người cũng là môn đệ của thánh Phêrô và là thông ngôn của thánh Phêrô, đã soạn lời giảng của thánh Phêrô thành sách Tin Mừng. Truyền thống cho rằng người đã sáng lập giáo đoàn Alexandria

PHÚC ÂM: Mc 16,15-20
“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16,16)
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Mac-co
15 Người nói với các ông : "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. 16 Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án. 17 Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin : nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. 18 Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ." 
19 Nói xong, Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. 20 Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.

Suy niệm:
Thánh Marcô

Đức Giêsu Phục Sinh không chỉ đem niềm vui đến cho các môn đệ, mà còn muốn từ các ông đến khắp tứ phương thiên hạ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ đưuọc cứu độ” (Mc 16, 15).
Để làm bằng chứng cho những lời rao giảng của các môn đệ, Đức Giêsu hứa ban cho các ông quyền năng: “Nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khỏe” (Mc 16,17-18).
Quyền năng đó không chỉ dành cho các môn đệ ngày xưa, nhưng vẫn được ưu ái dành cho các môn đệ của Đức Giêsu ngày hôm nay, khi họ biết “nhân danh Đức Giêsu” để loan báo Tin Mừng.
Họ vẫn trừ được quỷ, nghĩa là đánh đuổi được những mưu mô cám dỗ về điều ác.
Họ nói tiếng lạ, nghĩa là nói lời chân lý, lời sự thật trong cuộc sống hôm nay.
Họ không sợ rắn và thuốc độc, nghĩa là những thứ nguy hiểm sẽ không thấm nhập được vào người của họ, vì họ có sức mạnh của Đức Giêsu.
Ngày xưa các môn đệ đặt tay chữa bệnh cho người khác, thì hôm nay môn đệ của Đức Giêsu vẫn đặt tay để chữa người ta lành bằng tình yêu thương của họ, khi họ dám đụng chạm đến những mảnh đời bất hạnh.

Sống Lời Chúa:
Cuộc gặp gỡ Đức Kitô “chỗi dậy từ cõi chết” khiến các môn đệ đầy xác tín loan báo Tin Mừng với tư cách là chứng nhân, dám đem mạng sống mình làm bảo chứng cho lời mình rao giảng. Như thế lệnh truyền của Đức Kitô “Hãy đi loan báo Tin Mừng” không phải là mệnh lệnh áp đặt từ bên ngoài mà là lẽ sống còn của người kitô hữu. Đã tin vào Chúa Kitô phục sinh thì không thể không loan báo tin vui Ngài sống lại.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, thánh Maccô đã được Chúa soi sáng, hướng dẫn để viết lên lời Chúa trong Tin mừng của Ngài, cho muôn dân nhận biết Chúa. Đó cũng là sứ mạng của mỗi người chúng con, để chúng con cũng biết loan báo Tin mừng của Chúa bằng chính cuộc đời của con. Xin Chúa giúp chúng con luôn ý thức sứ mạng của mình, để sống gắn bó với Chúa, hầu có thể kể về Chúa cho người khác.

Lẽ sống:
Sư tử có đôi cánh

Khách du lịch đến thưởng ngoạn Venezia, một thành phố mơ mộng nằm trên sông nước và được làm tăng thêm vẻ đẹp bằng những công trình kiến trúc độc đáo cũng như bằng những tác phẩm nghệ thuật thời danh nằm ở mạn đông bắc Italia, không thể bỏ qua công trường Marcô, công trình mang tên của vị thánh bổn mạng của thành phố Venezia và cũng là vị thánh Giáo hội mừng kính hôm nay.
Trên con đường tiến gần đến công trường Marcô, du khách nhìn thấy một con sư tử có đôi cánh đứng sừng sững trên một ngọn tháp cao. Hình sư tử này nhắc đến sự nghiệp viết sách Phúc Âm đầu tiên của thánh Marcô, như chứng từ của sử gia Papias, sinh sống vào cuối thế kỷ thứ hai viết như sau:
"Marcô, người thông ngôn của Phêrô, đã viết ra đúng những gì nhớ được, tuy không theo thứ tự, về những điều Ðức Kitô đã nói và đã làm. Marcô không trực tiếp nghe Chúa giảng, cũng không phải là môn đệ của Ngài. Nhưng ông đã tháp tùng Phêrô, người đã giảng dạy theo những gì ông cảm thấy cần thiết, chứ không phải chủ tâm thuật lại lời Chúa một cách có hệ thống".
Marcô là người thông ngôn và lãnh trách nhiệm chép lại những lời Phêrô giảng, vì thế không lạ gì ở cuối bức thư thứ nhất, Phêrô gọi ông là "Marcô, người con của tôi".
Ngoài sự gần gũi với thánh Phêrô, Marcô cũng tiếp xúc lân cận với Phaolô, bắt đầu vào lần gặp gỡ đầu tiên vào năm 44, khi Phaolô và Barnaba đưa về Giêrusalem số tiền cộng đoàn Antiokia quyên được để trợ giúp cộng đoàn Mẹ. Khi trở về, Barnaba đem theo Marcô, là cháu của ông.
Sau đó, trong khi đồng hành với Phaolô và Barnaba để hoạt động truyền giáo ở đảo Cypre, vì một sự bất đồng ý kiến nào đó, Marcô đã bỏ về Giêrusalem. Vì lý do này, trong chuyến truyền giáo thứ hai, Phaolô đã nhất quyết không cho Marcô theo, mặc dù Barnaba tha thiết yêu cầu. Sự kiện này đã gây đổ vỡ đến sự cộng tác giữa Phaolô và Barnaba.
Nhưng trong những ngày cuối đời, khi chờ đợi ngày hành quyết, Phaolô đã viết thư nhắn với Timôthê: "Hãy đem cả Marcô đến nữa, vì tôi cần sự giúp đỡ của anh ấy lắm". Bạn bè người ta muốn gặp trong những ngày cuối đời phải là những người đồng sinh đồng tử!
Những chi tiết khác nhau đó của cuộc đời của thánh Marcô không lấy gì làm chắc. Có tài liệu cho là thánh nhân chết tự nhiên. Tài liệu khác lại cho là thánh nhân được phúc tử đạo. Vương cung thánh đường tại công trường Marcô ở Venezia tự hào là còn giữ lại hài cốt của Ngài.
Trong cuộc sống, Marcô đã chu toàn bổn phận mà mọi người Kitô được kêu gọi phải thực thi: Ðó là rao giảng Tin Mừng và làm chứng về Ðức Kitô. Marcô đã thực hiện công việc này đặc biệt qua công tác viết sách Phúc Âm, những người Kitô khác qua kịch nghệ, âm nhạc, thơ phú hay qua việc dạy đạo cho con em quanh bàn ăn của gia đình hoặc qua cuộc sống chứng tá trong những sinh hoạt và nếp sống hằng ngày.

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2016

Lời Chúa: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH – NĂM C - 24.04.2016

Phúc Âm : Ga 13,31-33a.34-35
“Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 13,34)
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gio-an.
31 Khi Giu-đa đi rồi, Đức Giê-su nói : "Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. 32 Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người. 
33 Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy ; nhưng như Thầy đã nói với người Do-thái : ' Nơi tôi đi, các người không thể đến được ', bây giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy.
34 Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau ; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 35 Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này : là anh em có lòng yêu thương nhau."

Suy niệm:
Như Thày đã yêu thương

Giới răn yêu thương mà Chúa Giêsu truyền lại cho các môn đệ, không chỉ diễn tả cách đối xử với nhau, nhưng còn có giá trị làm chứng cho giáo huấn của Người, để rồi nhờ đó mà những người khác sẽ nhận biết họ là môn đệ của Chúa.
Sau những nghi lễ long trọng có phần ồn ào náo nhiệt, hôm nay, Phụng vụ giúp chúng ta lắng đọng tâm hồn trở về với bầu khí trang trọng của bữa tiệc ly để suy niệm lời di chúc thiêng liêng của Chúa Giêsu. Người gọi các tông đồ là "các con bé nhỏ của Thày". Tác giả Tin Mừng còn ghi chú thêm rằng những lời này được nói sau khi Giuđa, kẻ phản bội đã ra khỏi phòng tiệc. "Các con bé nhỏ" là những người trung tín, ở với Thầy mình vào lúc khó khăn nguy hiểm. Chúa Giêsu căn dặn họ như một người thầy khuyên bảo các môn sinh trước lúc đi xa, vì Người chỉ còn ở với các ông "một ít lâu nữa thôi". Điều Người truyền lại cho các ông là giới răn yêu thương. Thực ra, yêu thương là cốt lõi giáo huấn của Chúa, nhưng lời mời gọi yêu thương được nhắc lại trong bối cảnh tiệc ly có ý nghĩa đặc biệt, vì tình yêu mà Chúa muốn các tông đồ thực hiện phải là tình yêu giống như của Chúa, "như Thày đã yêu thương".
"Như Thày đã yêu thương", đó là tiêu chí mà Đức Giêsu đã đề nghị cho hành động yêu thương của các môn đệ. Chúng ta biết rằng, những lời di chúc này được nói với các tông đồ liền sau khi Chúa rửa chân cho các ông. Chỉ một lát nữa, Người sẽ bị bắt và bị lên án tử. Như vậy, yêu "Như thày đã yêu thương" có nghĩa là hãy làm những gì Chúa đã làm, như một tấm gương cho các môn đệ noi theo bắt chước. Chính Chúa Giêsu đã nói với các tông đồ điều ấy: "Vậy nếu Thầy là Chúa, là Thầy,  mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em" (Ga 13 14-15).
Nếu chúng ta được mời gọi yêu thương và thực thi lòng thương xót đối với nhau, là vì Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta. Đức Thánh Cha Phanxicô vừa cho xuất bản một cuốn sách mang tựa đề "Danh Ngài là Thương Xót". Trong suốt bề dày của lịch sử  nhân loại, Thiên Chúa tự mạc khải Ngài là Đấng Thương Xót qua công trình sáng tạo, quan phòng và cứu chuộc. Đức Thánh Cha viết: "Lòng Thương Xót sẽ luôn luôn lớn hơn bất kỳ tội lỗi nào, không một ai có thể đặt giới hạn cho tình yêu của Thiên Chúa khoan dung tuyệt đối. Chỉ cần nhìn lên Ngài, từ bản thể và những thương tích của mình, ngước mắt hướng về Chúa, là chúng ta mở ra với ân sủng của Ngài".
Một điều xem ra có vẻ nghịch lý trong Tin Mừng hôm nay, đó là vào lúc bi thảm trước cuộc khổ hình, Chúa Giêsu lại nói đến vinh quang. Theo nhãn quan của tác giả, vào lúc Chúa chịu treo trên thập giá, cũng là lúc Người được tôn vinh (x. Ga 12,23). Đây cũng là sự tôn vinh dành cho Chúa Cha, vì Chúa Cha được vinh hiển qua mầu nhiệm thập giá và qua sự tuân phục của Chúa Con. Vì lẽ đó, thập giá vừa diễn tả một cực hình, vừa diễn tả tâm tình yêu mến, vâng phục của Chúa Giêsu. Vì lẽ đó mà thập giá, mặc dù là một dụng cụ khổ hình, vẫn được tôn vinh như biểu tượng của tình thương Thiên Chúa, và là niềm hy vọng của những ai tin vào Chúa Giêsu.
Giới răn yêu thương mà Chúa Giêsu truyền lại cho các môn đệ, không chỉ diễn tả cách đối xử với nhau, nhưng còn có giá trị làm chứng cho giáo huấn của Người, để rồi nhờ đó mà những người khác sẽ nhận biết họ là môn đệ của Chúa. Nói cách khác, thực hành yêu thương đồng nghĩa với việc loan báo Chúa Giêsu và quảng diễn giáo huấn của Người. Loan truyền giới răn yêu thương mà Chúa Giêsu đã trao cho các môn đệ, đó là sứ mạng căn bản của Giáo Hội từ hai ngàn năm qua. Đây cũng là điều làm nên nét khác biệt độc đáo giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác. Bởi lẽ cốt lõi của Đạo là tình yêu thương. Vào thời kỳ Đạo Công giáo mới được loan báo tại Việt Nam, những anh chị em lương dân đã gọi Đạo của chúng ta là "Đạo yêu thương", thay vì dùng những danh từ khó hiểu như Kitô giáo, Đạo Thiên Chúa… Tác giả sách Công vụ tông đồ đã ghi lại hành trình truyền giáo của Phaolô và Barnabê với một loạt những địa danh khác nhau. Hai ông là những nhà truyền giáo không biết mệt mỏi, mỗi khi lập các cộng đoàn mới, lại tiếp tục lên đường đến với những vùng xa lạ để loan báo Đức Giêsu. Tình yêu mến đã gắn bó các tín hữu, làm cho họ trở thành những cộng đoàn Giáo Hội.
Mọi sự trên thế gian này sẽ qua đi, tiền bạc, danh vọng và địa vị đạo đời cũng chẳng tồn tại. Điều còn lưu lại mãi mãi, đó là tình yêu. Tác giả sách Khải Huyền đã được chiêm ngưỡng một thời tương lai huy hoàng mà ông gọi là "Trời mới Đất mới". Lúc đó, chỉ có tình yêu viên mãn ngự trị. Đó cũng là vương quốc dành cho những ai khi sống ở đời này đã chuyên tâm thực hành giới răn yêu thương mà Chúa đã dạy.

Đức Cha Giuse Vũ Văn Thiên

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, xin dạy con biết yêu mến anh em như Chúa đã yêu thương con.

Lẽ sống:
Hạt Táo

Tại một xứ Hồi giáo nọ, có một người đàn ông bị vua truyền lệnh treo cổ vì đã ăn cắp thức ăn của một người khác. Như thường lệ, trước khi bị treo cổ, tù nhân được nhà vua cho phép xin một ân huệ. Kẻ tử tội bèn xin với nhà vua như sau: "Tâu bệ hạ, xin cho thần được trồng một cây táo. Chỉ trong một đêm thôi, hạt giống sẽ nảy mầm, thành cây và có trái ăn ngay tức khắc. Ðây là một bí quyết mà cha thần đã truyền lại cho thần. Thần tiếc là bí quyết này không được truyền lại cho hậu thế".
Nhà vua truyền lệnh cho chuẩn bị mọi sự sẵn sàng để sáng hôm sau người tử tội sẽ biểu diễn cách trồng táo. Ðúng giờ hẹn, trước mặt nhà vua và các quan văn võ trong triều đình, tên trộm đào một cái lỗ nhỏ và nói: "Chỉ có người nào chưa hề ăn cắp hoặc lấy của người khác, người đó mớico thể trồng được hạt giống này. Vì đã từng ăn trộm nên tôi không thể trồng được hạt giống này".
Nhà vua tin người tử tội, nên mới quay sang nhìn vị tể tướng, có ý nhờ ông ta làm công tác ấy. Nhưng sau một hồi do dự, vị tể tướng mới thưa: "Tâu bệ hạ, thần nhớ lại lúc còn niên thiếu, thần cũng đã có lần lấy của người khác... Thần cảm thấy mình không đủ điều kiện để trồng hạt táo này". Nhà vua đảo mắt nhìn quanh các quan văn võ đang cómặt, ông nghĩ bụng: may ra quan thủ kho trong triều đình là người nổi tiếng trong sạch có thể hội đủ điều kiện. nhưng cũng giống như vị tể tướng, quan thủ kho cũng lắc đầu từ chối và tuyên bố trước mặt mọi người rằng, ông cũng đã có một lần gian lận trong chuyện tiền bạc. không còn tìm được người nào có thể thực hiện được bí quyết trồng cây ấy, nha vua định cầm hạt giống đến cho vào lỗ đã đào sẵn. Nhưng ông cũng chợt nhớ rằng lúc còn niên thiếu, ông cũng có lần đánh cắp một báu vật của vua cha...
Lúc bấy giờ, người tử tội chỉ vì ăn cắp thức ăn, mới chua xót thốt lên: "Các ngài là những kẻ quyền thế cao trọng. Các ngài không hề thiếu thốn điều gì. Vậy mà các ngài cũng không thể trồng được hạt giống này, bởi vì các ngài cũng đã hơn một lần lấy của người khác. Còn tôi, một con người khốn khổ, chỉ lỡ lấy thức ăn của người khác để ăn cho đỡ đói qua ngày, thì lại bị các ngài nghị án treo cổ...". Nhà vua và cả triều thần nghe như xốn xáo trong lương tâm. Ông ra lệnh phóng thích cho người ăn trộm.
Lời cầu chúc "bình an" của Ðức Kitô Phục Sinh là một thứ hạt táo được gieo vào tâm hồn chúng ta. hạt giống bình an đó chỉ có thể nảy mầm thành cây và mang lại hoa trái là nếu mỗi người ai cũng dọn sẵn đất đai cho nó. Ðất đai thuận tiện để cho hạt giống của Bình An ấy được nảy mầm, chính là lòng sám hối thực sự. Sám hối nghĩa là biết chấp nhận chính bản thân và sãn sàng cảm thông, tha thứ cho người khác. Có nhận ra những yếu đuối bất toàn của mình, con người mới dễ dàng cảm thông và tha thứ cho người. Và có cư sử như thế, chúng ta mới thấy được hạt giống Bình An nảy mầm trong tâm hồn chúng ta và mang lại hoa trái cho người xung quanh...

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2016

Lời Chúa: Thứ Bảy 23.04.2016 TUẦN IV PHỤC SINH – Năm C

Thánh Ađalbertô, giám mục, tử đạo
PHÚC ÂM: Ga 14,7-14
“Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.” (Ga 14,9)
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan
7 Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người." 
8 Ông Phi-líp-phê nói : "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện." 9 Đức Giê-su trả lời : "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói : ' Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha ' ? 10 Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. 11 Anh em hãy tin Thầy : Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy ; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. 12 Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha. 13 Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con. 14 Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó.

Suy niệm:
Thương xót như Chúa Cha

Truyện cổ Nhật Bản kể có đôi vợ chồng rất yêu thương nhau, họ sinh được một cô con gái hiền dịu và xinh đẹp giống mẹ như đúc. Một ngày người mẹ qua đời và trao lại cho con gái một chiếc gương soi với lời dặn “Khi soi gương con sẽ nhìn thấy mẹ và mẹ sẽ phù hộ con”. Hằng ngày cô gái cố gắng làm việc tốt và nói chuyện với mẹ trong gương: “Hôm nay con đã làm được điều tốt như mẹ mong muốn”. Khi nói “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”, Đức Giê-su cho thấy mình chính là khuôn mặt của Chúa Cha. Như mở đầu Tông chiếu Năm thánh về Lòng Thương Xót, Đức Thánh Cha Phanxicô viết: “Chúa Giê-su Ki-tô là khuôn mặt của lòng thương xót Chúa Cha… Lòng Thương Xót đã trở nên sống động và hữu hình nơi Đức Giê-su thành Na-da-rét, và đạt đến đỉnh cao nơi Ngài.”

Sống Lời Chúa:
Nhận biết Thiên Chúa chính là nhận ra Lòng Thương Xót của Chúa Cha nơi con người Giê-su “qua lời nói, hành động và toàn bộ con người của Ngài.” Bạn được mời gọi chiêm ngắm khuôn mặt của Đức Giê-su để có tâm tình và hành động xót thương như Chúa. Đó là động lực của đời sống đức tin và nền tảng của Giáo hội.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, xin ban Thần Khí thánh hiến con, để giúp con cảm nghiệm được Lòng Thương xót của Chúa và biết sống Lòng Thương Xót ấy nơi những người chúng con gặp gỡ.

Lẽ sống:
Bữa ăn thiên đàng và hỏa ngục

Một ký giả kia được phép xuống hỏa ngục và lên thiên đàng để làm một bản phóng sự về đời sống của nhân dân tại đó.
Sau một cuộc hành trình gay go, ký giả trên lọt được vào địa ngục đúng vào giờ ăn. Nhìn vào bàn ăn, anh ta không khỏi lấy làm lạ khi thấy trưng bày toàn sơn hào hải vị đang bốc khói hương ngào ngạt làm anh ta không khỏi nuốt nước bọt.
Nhưng lúc các kiều dân địa ngục tiến vào phòng ăn, chàng ta lại càng ngạc nhiên hơn khi thấy họ ốm o gầy mòn, chỉ còn da bọc xương, vài người đi không muốn nổi. Sự kinh ngạc tan biến khi chàng phóng viên chứng kiến cảnh họ dùng bữa. Vì muỗng nĩa rất dài buộc dính vào đôi tay không cho phép họ đưa thức ăn vào miệng, nên dù họ có cố gắng thế nào đi nữa, thức ăn chỉ đổ tháo ra đầy bàn hay rơi tung tóe xuống mặt đất. Tệ hại hơn là cảnh họ tranh giành nhau: vài người dùng muỗng nĩa để thay vì đưa thức ăn vào miệng, lại biến chúng thành những khí giới đập đánh nhau. Thật là một bãi chiến trường. Khi chuông báo giờ ăn đã mãn, họ buồn phiền rời phòng ăn, dạ dày vẫn trống rỗng.
Quá sợ hãi, chàng ký giả lập tức từ giã địa ngục để tiếp tục lên phóng sự trên thiên đàng. Ðến nơi cũng đúng vào giờ cơm. Bàn ăn cũng trưng bày những thức ăn ngon miệng. Quan sát nhân dân, chàng ta thấy ai nấy đều phương phi, khỏe mạnh, tuy đôi tay họ cũng được gắn chặt những muỗng nĩa rất dài. Có khác là thay vì họ cố gắng đưa thức ăn vào miệng mình, họ lại dùng muỗng nĩa để đút thức ăn cho nhau. Phòng ăn vang lên những giọng nói cười vui, thỏa mãn.
Kết thúc bài phóng sự tường trình về những điều mắt thấy tai nghe, chàng ký giả viết: Ích kỷ và vị tha là hai điểm khác biệt giữa địa ngục và thiên đàng.
Kết thúc thời gian sáng thế, Thiên Chúa phán với hai ông bà nguyên tổ: "Hãy sinh sôi nảy nở và hãy nên đầy dẫy trên đất. Hãy làm bá chủ nó. Hãy trị trên cá biển và chim trời và mọi loài sinh vật nhung nhúc trên đất. Này Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ lá sinh hạt giống có trên mặt đất, và mọi thứ cây có quả sinh hạt giống, chúng sẽ làm thức ăn cho các ngươi".
Với công trình sáng tạo và lời chúc phúc trên, Thiên Chúa muốn biến mặt đất thành Vườn Ðịa Ðàng, nhưng con người đã chia mặt đất thành đông, tây, nam, bắc, thành những nước thống trị và những nước bị đô hộ, thành những quốc gia giàu và những nước nghèo. Ðó là chưa kể con người đã và đang biến Vườn Ðịa Ðàng thành địa ngục qua bao nhiêu cuộc chiến tranh lớn nhỏ mà xét cho cùng cũng chỉ vì tranh giành quyền lợi, tranh nhau miếng ăn, manh áo. Thật vậy, ích kỷ và vị tha là hai điểm khác biệt giữa địa ngục và thiên đàng.

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2016

Lời Chúa: Thứ Sáu 22.04.2016 TUẦN IV PHỤC SINH – Năm C

PHÚC ÂM: Ga 14,1-6
Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14,3)
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan
1 Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. 2 Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở ; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. 3 Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. 4 Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi." 
5 Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su : "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ?"  6 Đức Giê-su đáp : "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.

Suy niệm:
Con đường thầy đi

Nếu đặt câu hỏi: “con đường để làm gì?”, có lẽ nhiều người sẽ trả lời rằng: “để đi”. Điều đó không sai, nhưng thực ra con đường được hình thành là để dẫn đến đích. Dù là đường bộ, đường thuỷ, đường truyền tín hiệu, hay đường đời, đường tình duyên… nếu không có điểm đến thì đã chẳng có con đường. Giữa đất với trời, giữa con người với Thiên Chúa là một khoảng cách ngàn trùng, nhưng không phải vì thế mà không có con đường. Chúa Giê-su nói Ngài là chính con đường đó. Nhưng “con đường Thầy đi” không phải là con đường mà người ta bỏ lại sau lưng khi họ đạt tới đích. Con đường Giê-su còn “là sự thật và là sự sống”. Điều đó có nghĩa là “đi con đường Giê-su” cũng đồng nghĩa với việc sống kết hiệp với Đức Ki-tô và trong Đức Ki-tô để “Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó với Thầy.”

Sống Lời Chúa:
Để vác thập giá theo Đức Ki-tô, chúng ta hãy sống vâng phục như Ngài, và vui lòng đón nhận những nghịch cảnh trong cuộc sống mà không đầu hàng hay than trách số phận.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết noi gương Phaolô, cố gắng học hỏi Lời Chúa, nhất là cảm nghiệm Chúa Giêsu phục sinh trong mọi biến cố cuộc đời mình. Để con cũng biết loan báo và làm chứng cho Chúa phục sinh.

Lẽ sống:
Món quà của con cáo

Một câu chuyện giả tưởng thuật lại như sau:
Khi Chúa giáng sinh, các thú vật đều tới mừngChúa. Mỗi con đều dâng Chúa chút quà: Chị bò cái dâng sữa. Cậu khỉ biếu Chúa mấy trái nho.
Chú sóc nâu bé nhỏ tình nguyện ở lại làm đồ chơi cho Chúa.
Chúa Hài Ðồng vui vẻ nhận tất cả. Ðang lúc các thú vật quây quần bên Chúa thì chàng cáo xuất hiện. Các thú vật đều ghét cáo, vì hắn ta gian manh quỷ quyệt... Chúng chặn không cho cáo đến gần Chúa và tự hỏi: Không biết cáo định âm mưu gì.
Cáo nói: Tôi đến dâng lễ vật cho Chúa. Nhưng chẳng thấy cáo mang theo lễ vật nào. Chúa ra hiệu cho cáo vào. Quỳ bên Chúa Hài Ðồng chàng cáo thì thầm dâng lên Chúa long quỷ quyệt của mình.
Thú vật đều bỡ ngỡ: Dâng gì kì cục vậy! Trái lại cáo ta vui cười hớn hở, còn Chúa đặt hai tay trên đầu cáo tỏ dấu ưng thuận chúc lành. Xưa nay cáo sung sướng nhờ sự quỷ quyệt của mình, bây giờ dâng cho Chúa rồi, nó sẽ phải kiếm ăn cực nhọc với tấm lòng lương thiện. Chàng cáo đã dâng nhiều hơn hết mọi con vật.
Hẳn chúng ta còn nhớ câu chuyện "Người phụ nữ ngoại tình" trong tin Mừng: Một khi đã phạm tội, bà bị những người xung quanh kết án có thể gọi là "chung thân". hình như bà bị xã hội khắc vào má hai chữ "ngoại tình" không thể nào tẩy xóa được. Giống như chú cáo trong câu chuyện trên: Ðã gian manh quỷ quyệt thì mọi thứ đều không thể tưởng tượng cáo có thể thay đổi.
Nhưng với sự xuất hiện và hoạt động của Chúa Giêsu, mọi đổi thay đều có thể xảy ra. Con cáo có thể bỏ tính manh mum xảo trá để làm ăn lương thiện. Qua bao thế hệ, câu nói của Chúa Giêsu: "Tôi cũng thế, tôi không kết tội chị. Vậy chị hãy ra về và từ nay đừng phạm tội nữa" đã giúp đổi đen thành trắng nhiều cuộc đời.
Chúng ta hãy tập đừng vội xét đoán và nhất là đừng bao giờ kết án ai. Trái lại hãy cho nhau những cơ hội mới để mọi người có thể canh tân cuộc sống.
Tiếp đến, hãy tận tình giúp đỡ những người đang gặp khó khăn, những kẻ đang vấp ngã: Hãy giơ cánh tay thân thiện kéo họ ra khỏi những vũng bùn nhơ, thay vì đi nói xấu hay xét đoán và kết án họ.


Lời Chúa: Thứ Năm 21.04.2016 TUẦN IV PHỤC SINH – Năm C

Thánh An-xen-mô, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh
PHÚC ÂM: Ga 13,16-20
“Thầy nói với anh em… để khi sự việc xảy ra, anh em tin là Thầy Hằng Hữu. Ai tiếp đón Thầy là tiếp đón Đấng đã sai Thầy.” (Ga 13,19-20)
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan
16 Thật, Thầy bảo thật anh em : tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi.  17 Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em ! 18 Thầy không nói về tất cả anh em đâu. Chính Thầy biết những người Thầy đã chọn, nhưng phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây : Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con. 19 Thầy nói với anh em điều đó ngay từ lúc này, trước khi sự việc xảy ra, để khi sự việc xảy ra, anh em tin là Thầy Hằng Hữu. 20 Thật, Thầy bảo thật anh em : ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy."

Suy niệm:
Tiếp nối sứ mệnh của Chúa

Thiên Chúa Cha đã sai Con Một của Ngài đến thế gian để giảng dạy cho mọi người con đường cứu rỗi, và khi đã hoàn tất sứ mệnh của Ngài trên trần gian này, Chúa Giêsu sai các môn đệ Ngài đi loan báo Tin mừng cứu rỗi cho mọi tạo vật. Sự chính thống đó được Chúa Giêsu quả quyết như chúng ta có thể đọc thấy trong Tin mừng hôm nay: “Thày bảo thật các con, ai đón nhận kẻ Thày sai là đón nhận Thày, và ai đón nhận Thày là đón nhận Đấng đã sai Thày”.
Trong văn mạch của Phúc âm, trước khi nói những lời trên, Chúa Giêsu đã làm gương cho các Tông đồ của Ngài: Ngài rửa chân họ và sau đó khi trở lại bàn ăn, Ngài nói với họ: “Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai không trọng hơn kẻ đã sai mình”. Thật là đơn giản, nhưng là một sự đơn giản đòi hỏi: đời sống truyền giáo của Giáo Hội phải rập khuôn với cuộc đời của Chúa Giêsu, với tấm gương Ngài đã sống và đã giảng dạy. Giáo Hội phải biết phục vụ trong khiêm tốn, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Chúa.

Mỗi Ngày Một Tin Vui

Sống Lời Chúa:
Là những người đã lãnh nhận Bí tích rửa tội, chúng ta đều là những môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta phải tiếp tục sứ mệnh của Chúa Giêsu bằng đời sống yêu thương và Phục vụ, trở nên muối và ánh sáng cho thế gian.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, Chúa mở đường dẫn chúng con về nhà Cha khi Chúa phục sinh. Xin ban cho chúng con đức tin để chúng con hân hoan dấn bước trên con đường Chúa vạch ra.

Lẽ sống:
Món quà sinh nhật

Một bác nông phu tên là Donningos sinh sống bên Brazil bằng nghề trồng bắp. Một buổi sáng nọ, trên con đường đi ra đồng làm việc, ông được đứa con trai mừng sinh nhật thứ 10 chạy theo căn dặn: "Ðừng quên mang về hai con chim nhỏ làm quà sinh nhật cho con cha nhé!". Người cha vốn rất vui tính và thương con nở nụ cười tươi, gật gù dưới chiếc nón rộng vành cho con yên dạ.
Sau một ngày lao động mệt nhọc trên cánh đồng, thấy mặt trời chưa lặn hẳn, bác Donningos vội đi qua cánh rừng gần đấy gom một mớ củi. Ðang lúc bó củi, bỗng bác nhớ lại lời hứa mang đôi chim về làm quà sinh nhật thứ 10 cho con. Bác bỏ vội bó củi bên đường, tiến sâu vào rừng, trèo nhanh lên gành đá của một ngọn đồi, nơi chim thường làm tổ. Tìm được một tổ chim có tiếng chim con kêu, bác cẩn thận luồn tay vào, nhưng vừa đụng những chim con, bác vội rụt tay về, vì nghe đau nhói như bị kim đâm. Nhìn kỹ đó là vết thương hai lỗ có máu rỉ ra.
Chưa định thần thì một con rắn đầu có hình chữ thập trườn ra ngoài, vươn đôi mắt ngê rợn chực tiếp tục tấn công. Ðó là con rắn nổi tiếng được dân địa phương gọi là "uturu des sétao". Nổi tiếng vì nọc nó vô phương cứu chữa.
Bác nông phu vội rút chiếc dao cán dài ra khỏi thắt lưng, nhắm đầu rắn chặt nhanh. May cho bác, nhát dao giết chết được con rắn, nhưng bàn tay bị rắn cắn bỗng vụt sưng lên. Không chần chừ, bác kê tay lên gốc cây và mạnh tay chặt luôn hai nhát, cắt lìa bàn tay. Buộc xong vết thương bằng chiếc áo và dùng răng phụ chiếc tay còn lại xiết chặt, bác dùng sức tàn chạy nhanh về nhà, nhưng vẫn không quên cầm hai chú chim làm qua sinh nhật cho con.
Bạn có tin câu chuyện có thực này không? Nếu bạn không tin thì làm sao bạn tin được một sự thật khác còn to lớn hơn: Thiên Chúa chúng ta, không những cho chúng ta bàn tay của người, nhưng đã trao ban cho chúng ta trọn Con Một yêu dấu của Người.



Thứ Hai, 18 tháng 4, 2016

Lời Chúa: Thứ Tư 20.04.2016 TUẦN IV PHỤC SINH – Năm C

PHÚC ÂM: Ga 12,44-50
“Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối.” (Ga 12,46)
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan
44 Đức Giê-su lớn tiếng nói rằng : "Ai tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng là tin vào Đấng đã sai tôi ; 45 ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi. 46 Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối. 47 Ai nghe những lời tôi nói mà không tuân giữ, thì không phải chính tôi xét xử người ấy, vì tôi đến không phải để xét xử thế gian, nhưng để cứu thế gian. 48 Ai từ chối tôi và không đón nhận lời tôi, thì có quan toà xét xử người ấy : chính lời tôi đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết. 49 Thật vậy, không phải tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải nói gì, tuyên bố gì. 50 Và tôi biết : mệnh lệnh của Người là sự sống đời đời. Vậy, những gì tôi nói, thì tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói với tôi."

Suy niệm:
Đi trong ánh sáng

Tin mừng Đức Kitô ngày càng được lan rộng đến thế giới ngoại giáo. Ở đây, hai gương mặt truyền giáo nổi bật nhất là Phaolô và Barnaba. Nhưng đây không phải là sáng kiến của hai ông mà là việc của Thánh Thần: “được Thánh Thần sai đi”. Như vậy, việc truyền giáo là công việc của Chúa Thánh Thần. Chính Ngài đóng vai chủ động, còn các tông đồ chỉ là những người cộng tác. Các ông không làm điều mình muốn, nhưng luôn làm điều Chúa muốn các ông làm.
Chúa Giêsu khi đến trần gian rao giảng cũng vậy, Ngài không làm theo ý mình nhưng hoàn toàn theo ý Chúa Cha: “Ta đã không tự mình nói ra, nhưng Cha là Ðấng sai Ta, chính Người đã ra lệnh cho Ta phải nói gì và phải công bố gì.”(Ga 12, 49).
Trong thời đại của chúng ta hôm nay, Chúa Thánh Thần cũng vẫn đóng vai chính và mỗi người Kitô hữu cũng được mời gọi cộng tác với Ngài để đem Tin Mừng Chúa Kitô đến cho mọi người. Điều quan trọng là ta phải biết lắng nghe Thánh Thần hướng dẫn. Nhưng làm sao để nghe được Thánh Thần? Luca diễn tả: “Ðang khi các ông làm việc thờ phượng Chúa và ăn chay, thì Thánh Thần phán bảo các ông”. Như vậy, để nghe được Thánh Thần ta cần phải cầu nguyện, không có cầu nguyện ta chỉ làm theo ý ta muốn, mà ý ta muốn thường ngược lại ý Chúa muốn. Thánh Augustino nói “Thiên Chúa muốn ban cho chúng ta ân sủng của Người, nhưng chỉ ban cho những ai xin Người”.  Chúa Giêsu đã dạy các Tông đồ “Hãy xin thì sẽ được”. Vì thế, các ông đã cùng nhau kiên trì trong cầu nguyện để chờ đợi Chúa Thánh Thần và Chúa Thánh Thần đã đến với các ông.

Sống Lời Chúa:
Tôi tập làm ánh sáng của Chúa Giê-su qua việc mỗi ngày làm một việc bác ái, một nghĩa cử yêu thương, nói một lời an ủi, khích lệ...

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, Chúa là ánh sáng trần gian, là ánh sáng cho tâm hồn con. Xin giúp con xác tín tin theo Chúa, thực hiện điều răn Chúa dạy, con sẽ bước đi trong ánh sáng, không còn bóng tối nơi tâm hồn con nữa. Xin cho con cũng trở thành ánh sáng Chúa cho người lân cận.

Lẽ sống:
Hãy thắp lên một que diêm

Một bữa nọ, ông John Keller, một diễn giả nổi tiếng được mời thuyết trình trước khoảng 100 ngàn người tại vận động trường Los Angeles bên Hoa Kỳ. Ðang diễn thuyết ông bỗng dừng lại và nói: "Bây giờ xin các bạn đừng sợ! Tôi sắp cho tắt tất cả đèn trong sân vận động này".
Ðèn tắt, sân vận động chìm sâu trong bóng tối dày đặc, ông John Keller nói tiếp: "Bây giờ tôi đốt lên một que diêm. Những ai nhìn thấy ánh lửa của que diêm tôi đốt thì hãy kêu lớn lên: Ðã thấy!". Một que diêm được bật lên, cả vận động trường vang lên những tiếng kêu: "Ðã thấy!".
Sau khi đèn được bật sáng lên, ông John Keller giải thích: "Ánh sáng của một hành động nhân ái dù bé nhỏ như một que diêm sẽ chiếu sáng trong đêm tăm tối của nhân loại y như vậy".
Một lần nữa, tất cả đèn trong sân vận động lại tắt. Một giọng nói vang lên ra lệnh: "Tất cả những ai ở đây có mang theo diêm quẹt, xin hãy đốt cháy lên!". Bỗng chốc cả vận động trường rực sáng.
Ông John Keller kết luận: "Tất cả chúng ta hợp lực cùng nhau, cóthể chiến thắng bóng tối, sự dữ và oán thù bằng những đóm sáng nhỏ của tình thương và lòng tốt của chúng ta".
Hòa bình không chỉ là môi trường sống vắng bóng chiến tranh. Hòa bình không chỉ là cuộc sống chung im tiếng súng. Vì trong sự giao tiếp giữa người với người, đôi khi con người giết hại nhau mà không cần súng đạn, đôi khi con người làm khổ nhau, đàn áp và bóc lột nhau mà không cần chiến tranh.
Ngoài ra, hòa bình không chỉ được xây dựng trong những văn phòng của các nhà lãnh đạo. Hòa bình không chỉ được xây dựng qua những cuộc họp, qua những buổi thảo luận, mặc cả của các nhà chính trị. Mọi người chúng ta phải trở thành những người thợ xây dựng hòa bình. Bởi lẽ nguồn gốc của hòa bình xuất phát từ phẩm chất của các mối liên lạc giữa người với người.
Người biết yêu mến là người thợ xây dựng hòa bình. Kẻ biết giúp đỡ là kẻ xây đắp hòa bình. Những ai biết tha thứ, những ai biết phục vụ tha nhân, những ai biết luôn khước từ hận thù, bạo lực là những người thợ xây dựng hòa bình. Những ai biết chia sớt của cải mình cho người túng thiếu hơn, những ai có lòng nhân từ, có lòng khoan dung và thông cảm đều là những kẻ giúp cho hòa bình nảy nở giữa loài người.
Tóm lại, cách thức tốt nhất để xây dựng hòa bình là tăng thêm cho thật nhiều những hành động yêu thương và hảo tâm đối với đồng loại. Những hành động yêu thương xuất phát từ lòng nhân hậu sẽ như những ánh sáng nho nhỏ của một que diêm. Nhưng nếu mọi người cùng đốt lên những ánh sáng bé nhỏ, những hành động yêu thương sẽ có đủ sức mạnh để xua đuổi bóng tối của những đau khổ và sự dữ.