Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

Lời Chúa: thứ Bảy XXXI Thường Niên Năm A. 08.11.2014

Phúc Âm: Lc 16,9-15
“Nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em ?”
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
9 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy bảo cho anh em biết : hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu. 10 Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn ; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn. 11 Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em ? 12 Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em ? 13 “Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được.” 14 Người Pha-ri-sêu vốn ham hố tiền bạc, nên nghe các điều ấy, thì cười nhạo Đức Giê-su. 15 Người bảo họ : “Các ông là những kẻ làm ra bộ công chính trước mặt người đời, nhưng Thiên Chúa thấu biết lòng các ông, bởi vì điều cao trọng đối với người đời lại là điều ghê tởm trước mặt Thiên Chúa.”

Suy niệm:
Người ta nói đùa rằng: “Tiền không quan trọng nhưng những vấn đề quan trọng đều giải quyết bằng tiền.” Rõ ràng tiền là một trong những thứ cần thiết nhất trong cuộc sống con người. Tiền tự nó không xấu, không tốt: Tốt hay xấu là tùy ở nhận thức, thái độ và cách sử dụng của con người. Cho nên, trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giê-su không lên án tiền của, cũng chẳng bác bỏ sự giàu sang. Ngài chỉ nhắc nhở chúng ta về cách sử dụng tiền bạc: đừng coi trọng tiền bạc hơn Chúa, đừng ảo tưởng có thể vừa thờ Chúa vừa gắn bó với tiền của. Trái lại, hãy dùng tiền của “mua” lấy tình bằng hữu trong đời sống hôm nay, để rồi mai ngày ta sẽ được đón rước vào nơi hạnh phúc vĩnh cửu.
Nếu có của, có tiền dư giả mà cho thì đã đành. Nhưng ngay cả khi minh đang thiếu thốn, hoặc chỉ vừa đủ cho mình, liệu lúc đó mình có đủ can đảm để cho đi.

Ngày nay người ta thường cho đi với hậu ý đằng sau
ü Các diễn viên, ca sĩ Việt Nam ngày nay đang đua nhau làm từ thiện. Họ cũng cho đi đấy chứ. Nhưng lúc họ cho đi, thì có cả một đoàn phóng viên đã được bố trí sẵn để chụp hình quay phim ? Để làm Gì ? Và đấy có phải là cho đi. Có hạnh phúc không với những kiểu cho đi này ? Câu trả lời là có. Nhưng hạnh phúc của họ là thứ hạnh phúc quá rẻ tiền vô giá trị. Vì mượn sự đau khổ của kẻ khác để đánh bóng mình.
ü Có nhiều tâm hồn đã biết cho đi trong âm thầm: Mỗi lần cho đi họ thêm một lần đối đầu với gian nan thiếu thốn. Mỗi lần cho đi là họ cảm thấy lo lắng thêm vì gia tài họ chỉ có vậy, nhưng lại dám can đảm cho đi. Hạnh phúc đang được họ gieo trồng và hôm nay vẫn ẩn sâu trong đau khổ, trong lo âu. Mai này xuôi tay, giàu có ,nghèo hèn như nhau trước toà Thiền Chúa. Lúc đó ai sẽ hạnh phúc?
ü Giúp đỡ ai đó vượt qua nỗi đau, thoát cơn túng thiếu nợ nần là đang  chắp cho mình đôi cánh để bay thẳng tới niềm hạnh phúc vĩnh hằng. Vâng "Cho đi là nhận lãnh - Quên mình sẽ gặp lại bản thân”.

Hãy học cho biết cách dùng tiền của đời này
ü Biết dùng tiền của: Người biết dùng tiền của sẽ không tiêu xài hoang phí vào những việc không cần thiết, nhưng biết dùng tiền để sinh ích lợi cho chính mình và cho người khác như:
1.     dùng tiền của để trau dồi các tài năng cần thiết cho cuộc sống như sách vở, học hành; hay có thể cho những người cần dùng nó bằng cách cung cấp học bổng hay các công trình nghiên cứu có lợi cho gia đình nhân loại.
2.     dùng tiền của để giúp đỡ người nghèo khó: Tin Mừng Matthêu, chương 25 dạy: Những gì chúng ta làm cho những người khốn khổ là làm cho Thiên Chúa. Chúa Giêsu cũng tái xác nhận điều này: “Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu.”
ü Hãy chứng tỏ lòng trung tín với Thiên Chúa qua việc dùng tiền của: Cuộc đời là bãi chiến trường để học hỏi và thử nghiệm, nó cũng là dịp để Thiên Chúa đánh giá con người:
1.     qua sự trung tín trong việc nhỏ: “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn.”
2.     qua sự trung tín trong việc dùng những của cải bất chính: “Nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em?”
3.     qua sự trung tín trong việc dùng của cải người khác: của đau con xót, con của mình đau hơn con của người: “Nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em?”
ü Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ: Không giống như thời đại ngày nay, người nô lệ hay gia nhân thời xưa chỉ có thể phục vụ một chủ mà thôi.
1.     Cho dẫu ngày nay con người có thể làm tôi hai chủ, mức độ trung thành với hai chủ không bằng nhau: hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ.
2.     Cũng vậy trong việc phục vụ Thiên Chúa: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được.” Rất nhiều người suy nghĩ ngược lại với Chúa Giêsu: họ nghĩ họ có cách để phục vụ cả hai một lúc. Một ví dụ điển hình là người Pharisêu: “họ vốn ham hố tiền bạc, nên nghe các điều ấy, thì cười nhạo Đức Giêsu.” Có những người vì ham hố kiếm tiền nên đã không còn thời giờ cho Thiên Chúa, ngay cả việc đi tham dự Thánh Lễ ngày Chủ Nhật.

Sống Lời Chúa:
+ Chúng ta phải biết sử dụng của cải Chúa ban đời này để sinh lợi ích cho mình và tha nhân, như chia sẻ, giúp đỡ một người nghèo, một gia đình gặp hoạn nạn, hoặc những hoàn cảnh túng thiếu, nợ nần cần sự giúp đỡ… với số tiền hợp khả năng của mình, để mua lấy phần thưởng Nước Trời mai sau.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, mọi sự trên đời này đều bởi Chúa mà ra, và những gì con có được hôm nay cũng là của Chúa ban. Xin Chúa cho con biết dùng những của cải Chúa ban để phục vụ việc xây dựng Nước Chúa, sinh ích cho anh chị em chung quanh con, đặc biệt là gia đình con.

Lẽ sống:
Tôi là người hạnh phúc nhất trần gian

Một ông vua giàu có nọ không bao giờ cảm thấy thỏa mãn, bởi vì tất cả tài sản mà ông có đều do sự miễn cưỡng đóng góp của thần dân. Ông tự so sánh mình với những người hành khất: người hành khất nhận được tiền của do lòng thương của người khác, còn ông, ông nhận được tiền do sự cưỡng bách.
Ngày nọ, ông vua giàu có đã quyết định làm một việc táo bạo: đó là cải trang thành người hành khất để cảm nghiệm được những đồng tiền bố thí... Thế là mỗi ngày Chúa Nhật, ông biến mình thành một người ăn xin lê lết trước cửa giáo đường. Ông cho tất cả những tiền ăn xin được vào một chiếc hộp nhỏ. Tuy không là bao so với cả kho tàng của ông, nhưng có lẽ nó vẫn có giá trị hơn... Ông tự nghĩ: bây giờ ta mới thực sự là người giàu có nhất trên đời, bởi vì tiền của ta nhận được là do lòng thương xót của con người, chứ không do một sự cưỡng bách nào.
Khi đã gom góp được một số tiền khá lớn sau những năm tháng ăn xin trước cửa các giáo đường, ông đã xin từ chức khỏi ngai vàng và đi đến một phương xa, nơi không ai có thể nhận ra ông. Ông mua một mảnh đất, và tự tay cất được một ngôi nhà tranh đơn sơ. Không mấy chốc, do sự hòa nhã, vui tươi của ông, mọi người trong lối xóm đều mến thương ông, nhất là các em bé. Ông kể chuyện cho chúng nghe, ông đem chúng đi câu cá, ông dạy chúng ca hát.
Trong đám trẻ nhỏ, có một cậu bé gia đình còn nghèo hơn cả ông nữa. Cậu bé chỉ có vỏn vẹn một con chim họa mi. Nghe tin ông đau nặng, cậu bé đã vội vàng mang con chim đến tặng ông, với hy vọng rằng con chim sẽ hót cho ông được khuây khỏa.
Ðón nhận món quà, con người đã từng là vua của một nước mới thốt lên: "Từ trước đến nay, tất cả những gì tôi có, tôi đều lãnh nhận do lòng thương xót của người khác. Người ta cho tôi, nhưng không phải là cho tôi mà là cho một người hành khất. Giờ đây, với món quà tặng là con chim này, người ta tặng cho tôi với tất cả tấm lòng yêu thương... Chắc chắn, tôi là người hạnh phúc nhất trên trần gian". Một thời gian sau đó, trong vùng, có một người tá điền nghèo bị người chủ đe dọa lấy nhà và trục xuất ra khỏi mảnh vườn đang canh tác. Nghĩ đến cảnh hai vợ chồng và 7 đứa con dại bị đuổi ra khỏi nhà, ông vua không thể nào ăn ngủ được... Cuối cùng, ông quyết định tặng chính mảnh vườn và ngôi nhà của mình cho gia đình người tá điền nghèo... Và một lần nữa, không một đồng xu dính túi, ông lên đường trẩy đi một nơi khác.
Bùi ngùi vì phải chia tay với những người quen biết trong vùng, nhưng ông cảm thấy hạnh phúc vô cùng, bởi vì lần đầu tiên ông cảm nghiệm được niềm vui của sự ban tặng. Ông hiểu được rằng cho thì có phúc hơn là nhận lãnh... Lần này, ông thốt lên với tất cả xác tín: "Tôi là người hạnh phúc nhất trên trần gian này".
Câu chuyện của ông vua đi tìm hạnh phúc trên đây có thể gợi lên cho chúng ta về hình ảnh của chuyến đi cuộc đời của chúng ta... Người Kitô là một người lữ hành đi tìm hạnh phúc. Và hạnh phúc đích thực của chúng ta là gì nếu không phải là trao tặng, trao tặng cho đến lúc trống rỗng, nhưng bù lại, chúng ta được lấp đầy bằng chính Chúa.

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

Lời Chúa: thứ Sáu XXXI Thường Niên Năm A. 07.11.2014

Phúc Âm: Lc 16, 1-8
"Con cái đời này khi đối xử với đồng loại thì khôn khéo hơn con cái sự sáng".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
1 Khi ấy, Chúa Giê-su nói với các môn đệ rằng: "Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông. 2 Ông mới gọi anh ta đến mà bảo: 'Tôi nghe người ta nói gì về anh đó? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa!' 3 Người quản gia liền nghĩ bụng: 'Mình sẽ làm gì đây? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. 4 Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ!' 5 "Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất: 'Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy?' 6 Người ấy đáp: 'Một trăm thùng dầu ô-liu.' Anh ta bảo: 'Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi.' 7 Rồi anh ta hỏi người khác: 'Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy?' Người ấy đáp: 'Một ngàn gịa lúa.' Anh ta bảo: 'Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi.' 8 "Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại."

Suy niệm:
Mục đích của Thiên Chúa khi cho con người sống trên trần gian không phải để đầu cơ tích trữ của cải, nhưng là để làm vinh danh Thiên Chúa, và để xứng đáng lãnh nhận cuộc sống vĩnh cửu mai sau. Tiền bạc là của Thiên Chúa ban cho con người sử dụng, nó chỉ là phương tiện sinh sống chứ không phải đích điểm. Con người cần biết sử dụng tiền của để mưu ích cho mình và tha nhân trong cuộc sống đời này để chuẩn bị cho cuộc sống đời sau. Trong Bài đọc I, Thánh Phaolô nhắc nhở cho các tín hữu Philipphê đừng quên mục đích cao trọng của cuộc đời để chỉ tôn thờ của cải vật chất. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu khen người quản lý bất lương vì ông biết dùng của cải vật chất để mua bạn bè; ông hy vọng họ sẽ giúp ích lại cho ông trong tương lai.
Nhiều người đã xử sự sai khi đặt tiền của trên con người; hậu quả là họ mất cả người lẫn tiền. Ví dụ: Khi tìm được người có tài và tin cậy, chủ phải trả họ đồng lương tương xứng mới có thể giữ họ làm việc cho mình; nếu không họ sẽ làm cho hãng khác và chủ bị thiệt hại vì không kiếm được người đủ khả năng. Hay có những người chồng quá chi li cho việc tiêu xài trong nhà nên mất vợ, vì không biết đánh giá đúng những việc vợ làm cho mình: chăm giữ con, nấu ăn, rửa chén, thu dọn nhà cửa …

Sống Lời Chúa:
+ Con người ngày nay rất khôn ngoan khi tính toán để tìm kiếm hạnh phúc đời này. Nhưng sự khôn ngoan đích thực thì ít có ai tìm được, hay cố gắng đi tìm. Cũng như người quản lý trong bài Tin Mừng hôm nay, ông đã dùng sự khôn khéo gian manh để tìm hạnh phúc cho đời sống của ông. Qua đó, Ðức Giêsu muốn dạy chúng ta biết dùng sự khôn ngoan của mình để sử dụng gia tài Chúa ban: Sức khỏe, thời gian, tiền của... mà tìm lấy cho mình hạnh phúc vĩnh cửu. Chúng ta sống trên đời này không phải là để ra sức vơ vét của cải, vì chúng ta biết rất rõ: chúng ta không thể mang theo được gì khi xuôi hai tay nằm xuống.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, Xin cho mỗi người trong gia đình chúng con biết khôn ngoan sắp xếp đời sống của mình để ngày sau được hưởng phước Thiên Đàng với Chúa và Đức Mẹ cùng các Thánh.

Lẽ sống:
Nỗi khao khát của hạt muối

Khao khát duy nhất của hạt muối là được xem thấy biển. Bằng mọi giá, nó muốn khám phá thế nào là biển... Ngày kia, nó ra đi... Vừa đến bờ biển, nó khám phá ra một cái gì mênh mông, xanh ngắt và sống động. Nó thốt lên:
- Biển ơi, hãy nói đi, ngươi là ai?
 Một đợt sóng trả lời:
- Hãy chạm đến ta, rồi ngươi sẽ hiểu.
Hạt muối trườn mình xuống nước. Ô kìa, nó cảm thấy ngây ngất, niềm vui tột cùng làm nó cảm thấy như không còn đứng vững được nữa. Nó cảm thấy như đang hòa lẫn từ từ trong nước. Niềm vui dâng trào. Nó lại hỏi một lần nữa:
- Biển ơi, hãy nói đi, ngươi là ai?
Một đợt sóng cuối cùng ôm ghì lấy nó và nó từ từ tan biến trong nước. Nó chợt reo vui lần cuối cùng:
- Bây giờ ta mới hiểu thế nào là biển: biển là một phần của chính ta.

Hạt muối chỉ có thể hiểu được thế nào là biển khi nó được hòa tan trong nước. Có chìm ngập trong biển, có đi vào biển mới hiểu được thế nào là biển... Thiên Chúa cao cả hơn lý trí của con người. Chúng ta không thể chỉ biết Thiên Chúa bằng lý trí... Hãy để cho Thiên Chúa chiếm ngự, hãy để cho Thiên Chúa ôm chầm lấy ta, ta mới có thể biết được Ngài là ai. Tình yêu giữa Thiên Chúa và con người chỉ có thể nảy nở bằng thinh lặng, hòa nhập trong cảm mến, tri ân.

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

Lời Chúa: thứ Năm XXXI Thường Niên Năm A. 06.11.2014

Phúc Âm: Lc 15,1-10
“Trên trời ai nấy sẽ vui mừng, vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.”
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
1 Khi ấy, các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng. 2 Thấy vậy, những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau : “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” 3 Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này : 4 “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất ? 5 Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. 6 Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói : ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó.’ 7 Vậy, tôi nói cho các ông hay : trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn. 8 “Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được ? 9 Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói : ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất.’ 10 Cũng thế, tôi nói cho các ông hay : giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.”

Suy niệm:
Nhiều người trong chúng ta có khuynh hướng tự hào về lịch sử huy hòang của mình: giòng họ phú quí, bằng cấp, chức quyền …, nhưng rất nhiều khi những điều họ tự hào này chẳng giúp ích gì mà còn làm hại chúng ta nữa. Vì thế, chúng ta cần cẩn thận suy xét để tìm ra những gì thực sự giúp ích cho cuộc đời mình. Trong Bài đọc I, Thánh Phaolô nhận ra cái “lịch sử huy hòang” mà ngài đã từng tự hào, làm ngài súyt chết trong biến cố ngã ngựa trên đường đi Damascus; nhưng lòng thương xót của Người mà các Kitô hữu tin tưởng, mới thực sự là Người sinh ích cho cuộc đời của ngài. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu mở mắt cho các Kinh-sư và Biệt-phái nhìn thấy lòng thương xót của Thiên Chúa là lý do tại sao con người được cứu độ, chứ không phải thái độ “tự cho mình là công chính” của họ.

Sống Lời Chúa:
+ Chúng ta phải năng xét mình cẩn thận để nhận ra chúng ta và mọi người đều là tội nhân trước Thiên Chúa. Thiên Chúa đã yêu thương tha thứ cho chúng ta, chúng ta không được quyền kết tội tha nhân như các Kinh-sư và Biệt-phái, nhưng phải sẵn sàng tha thứ cho nhau.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu. Xin Chúa ban cho mỗi người trong gia đình chúng con biết quan tâm đến những con chiên lạc trong gia đình, trong giáo xứ để cầu nguyện, để họ và Chúa được gặp nhau.

Lẽ sống:
Ðồng bạc nhân nghĩa 

Một câu chuyện ngụ ngôn của Nga kể rằng: Có một nhà phú hộ kia khi gần chết lòng trí vẫn chỉ nghĩ đến tiền của là động lực đã thúc đẩy ông lao lực không biết mệt mỏi suốt cả cuộc đời. Dùng chút sức tàn, ông cố gỡ chiếc bao nhỏ đeo ở cổ, lấy ra chiếc chìa khóa trao cho người đầy tớ trung tín nhất của ông. Ông phú hộ ra dấu chỉ chiếc rương nằm trong góc nhà và ra lệnh cho cô ta lấy những túi tiền vàng ở trong đó bỏ vào quan tài. Khi chết xong, ông bắt đầu sống cuộc đời mới.

Ðứng trước chiếc bàn dài trưng bày đủ thứ cao lương mỹ vị, ông ta hỏi: "Món này giá bao nhiêu vậy?". Người bán hàng trả lời: "Một xu". Ông phú hộ chỉ một món khác kém giá trị hơn và hỏi: "Còn hộp cá mòi kia giá bao nhiêu?". "Cũng một xu", người bán hàng nhã nhặn trả lời.   
Thấy người bán hàng vui tính ông phú hộ tiếp tục hỏi: Còn miếng bánh này?". "Tất cả các vật trưng bày ở đây đều được bán với giá một xu", người bán hàng cho biết.

Ông phú hộ mỉm cười thỏa mãn. Rẻ thật, ông nghĩ thầm. Rồi sau một hồi ngắm nghía, ông chọn một đĩa thức ăn lớn. Nhưng khi ông lấy một đồng tiền vàng mang theo lúc từ giã cõi đời ra trả, cô thu tiền không nhận. Cô ta vừa lắc đầu vừa nói: "Ông đã học được quá ít trong cuộc sống". Nghe nói thế ông phú hộ không khỏi ngạc nhiên, gặn hỏi: "Thế nghĩa là gì?
Ðồng tiền vàng của tôi không đủ để trả cho đĩa thức ăn này sao?". Bấy giờ người thu tiền mới cho ông biết: "Ở đây chúng tôi chỉ nhận những đồng tiền mà trong cuộc sống trước đây ông đã dùng để giúp đỡ cho những người nghèo túng, đói khổ". Tại những vùng chịu ảnh hưởng của Phật Giáo đến từ Trung Hoa, vào những ngày giỗ hay ngày tư, ngày tết, các phật tử có thói quen đốt những giấy tiền vàng bạc với niềm tin là qua đó họ có thể gửi tiền ấy cho ông bà, cha mẹ đã quá cố để họ có thể tiêu xài nơi chốn suối vàng. Những người Công Giáo cũng thể hiện lòng hiếu thảo của mình đối với những thân nhân đã qua đời bằng cách dâng những hy sinh và kinh nguyện đặc biệt trong tháng 11 mỗi năm. Cộng vào đấy, là những hành động bác ái, chia sẻ, làm thay cho những người đã từ biệt cõi đời.  
Lúc rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã nêu bật thật rõ ràng ý nghĩa của biến cố "Nhập Thể" của Ngài: Ngài không những "làm người" trong một thân xác duy nhất, ngài còn đồng hóa mình với tất cả mọi người để nếu chúng ta yêu thương bất kỳ ai, đó là chúng ta cũng yêu mến Ngài. Ðể sống trọn ý nghĩa của tháng 11, tháng các đẳng linh hồn, chúng ta không chỉ dâng lời cầu nguyện cho những người đã khuất bóng, nhưng cũng hãy gia tăng những việc từ thiện bác ái, chia cơm sẻ áo với những anh chị em thiếu thốn đang sống bên cạnh, để dâng các công đức ấy cho các đẳng, đồng thời cũng để thâu nhập cho chính chúng ta những công nghiệp có giá trị vĩnh cửu trong cuộc sống mai hậu.

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

Lời Chúa: thứ Tư XXXI Thường Niên Năm A. 05.11.2014

Phúc Âm: Lc 14,25-33
“Ai không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.”
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
25 Khi ấy, có rất đông người cùng đi đường với Đức Giê-su. Người quay lại bảo họ : 26 “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. 27 Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được. 28 “Quả thế, ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có hoàn thành nổi không ? 29 Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi, lại không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chế diễu mà bảo : 30 ‘Anh ta đã khởi công xây, nhưng chẳng có sức làm cho xong việc.’ 31 Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng ? 32 Nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà. 33 Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.”

Suy niệm:
Sống là chấp nhận từ bỏ. Có những điều xấu phải từ bỏ như tật nghiện thuốc lá, ma tuý, rượu chè, trụy lạc... Cũng có điều tốt phải bỏ, để chọn một điều tốt hơn: chọn nghề, chọn trường, chọn chỗ làm, chọn bậc sống...
Từ bỏ thường làm ta sợ và tiếc. Bỏ chiếc giường êm để thức dậy đi lễ sáng. Tắt tivi vì đến giờ đọc kinh tối gia đình. Dành Chúa Nhật để học giáo lý và làm việc xã hội.
Nếu từ bỏ vì yêu, ta sẽ thấy nhẹ hơn, dễ hơn. Người mẹ thức trắng đêm để đan nốt chiếc áo cho con. Người mẹ “là mẹ hơn” qua những hy sinh vất vả. Từ bỏ vì yêu chẳng bao giờ thiệt thòi, mất mát.
Cuộc sống văn minh cho ta nhiều chọn lựa. Con người dễ chọn cái tầm thường hơn cái cao cả, chọn khoái lạc phù du hơn hạnh phúc vững bền, chọn lợi ích cho cá nhân tôi hơn là cho tập thể. Xem ra con người thích cái dễ dãi hơn.
Kitô hữu là người đã chọn theo Ðức Giêsu. Làm môn đệ Ngài là chọn đi vào đường hẹp, cửa hẹp. Ngài đòi ta đặt tất cả dưới Ngài, yêu Ngài trên mọi sự, trên những người thân yêu, trên của cải tinh thần, vật chất, trên mạng sống mình, trên cả hiện tại tương lai. Những thụ tạo trên thật đáng trân trọng, nhưng chúng chỉ có giá trị tương đối khi sánh với Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người.
Con người có khuynh hướng muốn bắt cá hai tay: vừa muốn những sự sung sướng thế gian vừa muốn đạt tới Nước Trời. Có một câu truyện về một em bé, khi được hỏi: Em muốn làm gì khi lớn lên? Em bé phân vân không biết trả lời làm sao. Khi được gạn hỏi kỹ hơn, em bé trả lời em vừa muốn làm thâu ngân để giữ tiền vừa muốn làm chị nữ tu để theo Chúa. Thái độ của em bé cũng là thái độ của nhiều người chúng ta; nhưng điều này đã được Chúa Giêsu đã thẳng thắn tuyên bố: “Các con không thể làm tôi cả Thiên Chúa lẫn tiền tài” (Mt 6:24). Bài đọc I là những lời khuyên thực tế Thánh Phaolô rút ra từ Bài Thánh Ca hôm qua: đi theo Chúa Giêsu là chấp nhận lối sống nên vinh quang của Ngài, lối sống vâng lời tuyệt đối nơi Thiên Chúa. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu thẳng thắn đặt điều kiện cho những người muốn đi theo Chúa: phải dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh/chị/em, cả mạng sống mình nữa, và vác thập giá mình. Con người phải cẩn thận suy nghĩ trước khi quyết định theo Ngài, để đừng bỏ dở nửa chừng mà mất cả chì lẫn chài. Nên Phải suy nghĩ tính toán trước khi làm quyết định theo Chúa.

Sống Lời Chúa:
+ Ba điều kiện đi theo Chúa:
1. Phải từ bỏ người thân: "Ai đến với tôi mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, thì không thể làm môn đệ tôi được.”
2. Phải từ bỏ mạng sống mình: Như Chúa Kitô đã sẵn hy sinh mạng sống cho con người, các môn đệ cũng đòi hỏi phải có sự hy sinh như thế.
3. Phải vác thập giá mình: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.” Thập giá Chúa nói tới ở đây là tất cả trái ý, gian khổ, bất công … mà người môn đệ sẽ phải đương đầu với khi rao giảng Tin Mừng.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, Xin cho mọi thành viên trong gia đình chúng con luôn học biết về thập giá để luôn mang trên mình, mà đi theo Chúa.

Lẽ sống:
Chiếc quan tài con

Tại chùa Tô Châu bên Tàu có một nhà sư tên gọi là Viên Thủ Trung, nổi tiếng là tu hành đắc đạo. Nhà sư thường bày trên án thư, trước chỗ ngồi, một cái quan tài con bằng gỗ bạch đàn, dài độ 3 tấc, có một cái nắp đậy, mở được. Khách đến chơi trông thấy thường tò mò tra hỏi, nhà sư trả lời: "Người ta sống tất có chết, mà chết thì vào ngay cái này. Tôi thực lấy làm lạ, người đời ai cũng chỉ biết có phú quý, công danh, tài sắc thị hiếu, lo buồn, vất vả suốt đời, chẳng biết đến cái chết là gì... Mỗi khi có việc không được như ý, tôi cầm lấy cái quan tài mà ngắm, tức khắc tôi cảm thấy được yên ổn trong tâm hồn ngay".

Con người sở dĩ chạy theo tiền tài danh vọng đến độ chà đạp trên người khác là bởi vì con người không nghĩ đến cái chết đang rình rập sau lưng. Khi tử thần xuất hiện, thì con người không kịp mang theo bất cứ một tài sản nào. Cái chết chỉ trở thành đáng sợ khi con người còn quá nhiều dính bén đối với trần thế này. Trái lại, được ôm ấp suy gẫm mỗi ngày, cái chết sẽ trở thành một người bạn đồng hành giúp con người vượt qua được mọi chán chường, bận tâm thái quá... Trong tất cả mọi sự, người khôn ngoan đích thực luôn nghĩ đến cùng đích.

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

Lời Chúa: thứ Ba XXXI Thường Niên Năm A. 04.11.2014

Thánh Ca-rô-lô Bo-rô-mê-ô, giám mục - lễ nhớ
Phúc Âm: Lc 14,15-24
“Hãy ra các ngả đường, ép người ta vào đầy nhà cho ta.”
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
15 Khi ấy, một trong những kẻ đồng bàn nói với Đức Giê-su rằng : “Phúc thay ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa !” 16 Người đáp : “Một người kia làm tiệc lớn và đã mời nhiều người. 17 Đến giờ tiệc, ông sai đầy tớ đi thưa với quan khách rằng : ‘Mời quý vị đến, cỗ bàn đã sẵn.’ 18 Bấy giờ mọi người nhất loạt bắt đầu xin kiếu. Người thứ nhất nói : ‘Tôi mới mua một thửa đất, cần phải đi thăm ; cho tôi xin kiếu.’ 19 Người khác nói : ‘Tôi mới tậu năm cặp bò, tôi đi thử đây ; cho tôi xin kiếu.’ 20 Người khác nói : ‘Tôi mới cưới vợ, nên không thể đến được.’ 21 “Đầy tớ ấy trở về, kể lại sự việc cho chủ. Bấy giờ chủ nhà nổi cơn thịnh nộ bảo người đầy tớ rằng : ‘Mau ra các nơi công cộng và đường phố trong thành, đưa các người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt vào đây.’ 22 Đầy tớ nói : ‘Thưa ông, lệnh ông đã được thi hành mà vẫn còn chỗ.’ 23 Ông chủ bảo người đầy tớ : ‘Ra các đường làng, đường xóm, ép người ta vào đầy nhà cho ta. 24 Tôi nói cho các anh biết : Những khách đã được mời trước kia, không ai sẽ được dự tiệc của tôi’.”

Suy niệm:
Ngày nay, sự dửng dưng vô cảm với bàn tiệc Nước Trời vẫn còn đó nơi người Kitô hữu chúng ta. Vì thế, không lạ gì khi vẫn có những người thích ăn chơi, nhậu nhẹt, chè chén say xưa; hay vẫn tin vào những chuyện mê tín dị đoan; hoặc những chân lý nửa vời nên không màng chi đến chuyện đạo đức, lễ lạy, nên người ta dễ bỏ qua việc đi lễ, đọc kinh và những việc bác ái, đạo đức thường ngày... Chúng ta nhiều khi sẵn sàng đặt để vai trò của Chúa xuống hàng thứ yếu, nhưng khi được hỏi thì vẫn nói là mến Chúa trên hết mọi sự! Ôi thật là một sự giả hình!
Dự tiệc là cả một niềm vui và vinh dự,  Vui là vì cùng được gặp gỡ được nhiều người và được nới rộng quan hệ quen biết; vinh dự là được mời và được ngồi chung bàn với đủ mọi hạng người. Niềm vui và vinh dự khi con người được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa thì đó là một Đại Phúc

Sống Lời Chúa:
+ Kẻ được mời gọi thì nhiều, kẻ được chọn thì ít. Cho dù chúng ta đã được mời, nhưng nếu không chịu dùng thời giờ để học hỏi về Chúa, năng chịu các Bí-tích để lấy sức mạnh chiến đấu với ba thù, chúng ta sẽ dễ dàng đi trật đích và bị loại ra ngoài.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, Dự tiệc trong Nước Trời là cùng đích của chúng con. Xin cho mọi thành viên trong gia đình chúng con được hưởng phúc lộc này của Chúa.

Lẽ sống:
Quo Vadis, Domine?
(Lạy Chúa, Chúa đang đi đâu?)

Ðêm trước ngày vào cơ mật viện để bầu Giáo Hoàng, Hồng Y Karol Wojtyla đã chuẩn bị hành lý để trở về Krakow, tổng giáo phận của ngài. Thế nhưng, ngài đã không trở lại Krakow nữa? Ngày thứ hai, 16 tháng 10 năm 1978, vị Hồng Y 58 tuổi này đã được bầu làm Giáo Hoàng và lấy tên là Gioan Phaolô II. Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên đến từ Ba Lan, là vị Giáo Hoàng đầu tiên không phải là người Italia kể từ 450 năm qua, và tính từ 150 năm trở lại, thì ngài là vị Giáo Hoàng trẻ nhất. Trong khi chuẩn bị cho bài giảng Chúa Nhật đầu tiên kể từ lúc được bầu làm Giáo Hoàng, Ðức Gioan Phaolô II đã nghĩ đến tác giả của quyển tiểu thuyết giả sử nổi tiếng "Quo vadis, Domine?" là ông Henryk Sienkiewicz, một văn sĩ và đồng thời cũng là một nhà ái quốc Ba Lan? Qua tác phẩm này, vị Giáo Hoàng người Ba Lan đã so sánh tâm tình của mình với vị Giáo Hoàng đầu tiên là thánh Phêrô như được ghi lại trong tác phẩm "Quo vadis, Domine?", "Lạy Chúa, Chúa đang đi đâu?". Theo tác giả quyển tiểu thuyết giả sử, thì có lẽ thánh Phêrô thích ở lại quanh quẩn bên bờ hồ Genezareth hơn là đến giữa trung tâm của đế quốc La Mã để gặp không biết bao nhiêu chống đối và bách hại. Giữa lúc vị Giáo Hoàng đầu tiên toan tình trốn khỏi La Mã để trở về quê hương mình, thì ngài gặp lại Chúa Giêsu hiện ra đang đi ngược chiều với ngài. Ngạc nhiên về sự xuất hiện của Chúa, thánh Phêrô đã hỏi: "Quo vadis, Domine?" nghĩa là "Lạy Chúa, Chúa đang đi đâu?". Và Chúa Giêsu đã trả lời như sau: "Ta đang đi đến La Mã để chịu đóng đinh một lần nữa". Hiểu được ý Chúa, Phêrô đã quay trở lại La Mã và ngài ở lại đó cho đến khi chịu đóng đinh. 
Hôm nay Giáo Hội kính nhớ thánh Carolô Borremêô và mừng bổn mạng một cách đặc biệt của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Mãi mãi tên Carolô gắn liền với tên tuổi và vận mệnh của Ðức Thánh Cha. Hơn ai hết, ngài phải là người kính nhớ và ghi ơn vị thánh bổn mạng nhiều nhất. Tên thánh được đặt cho chúng ta trong ngày chịu Phép Rửa đánh dấu sự đổi đời quan trọng của chúng ta. Từ cái chết trong tội lỗi, chúng ta được tái sinh trong sự sống của Chúa. Hướng đi của chúng ta phải là hướng đi tới Chúa, không thể là bước thụt lùi.
Mang lấy tên thánh Carolô, Wojtyla đã quyết tâm hướng cuộc đời của mình tiến tới trong phục vụ và hy sinh như như chính thánh giám mục Carolô Borremêô. Và khi chọn lấy danh hiệu mới là Gioan Phaolô, vị Giáo Hoàng người Ba Lan cũng quyết tâm tiến tới trên con đường mà hai vị tiền nhiệm của mình đã vạch ra... Là người Kitô, chúng ta cũng luôn được mời gọi tiến tới không ngừng trên đường theo chân Chúa Giêsu. Tên thánh mà chúng ta mang lấy trong ngày Rửa Tội, danh hiệu Kitô mà chúng ta được đặt cho phải luôn luôn là một nhắc nhở chúng ta về con đường tiến lên ấy. Chắc chắn con đường ấy không là một con đường rộng thênh thang. Sự tiến lên ấy không là một đà tiến dễ dàng. Phêrô đã quay trở lại La Mã để chịu đóng đinh... Thập giá có lẽ đang chờ đợi chúng ta, chúng ta hãy hiên ngang tiến bước vì đó chính là hướng đi của tất cả những ai mang danh hiệu Kitô.

Lời Chúa: thứ Hai XXXI Thường Niên Năm A. 03.11.2014

Thánh Mác-ti-nô Po-rét, tu sĩ
Phúc Âm: Lc 14,12-14
“Đừng mời bạn bè, nhưng hãy mời những người nghèo khó, tàn tật.”
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
12 Một ngày sa-bát kia, Đức Giê-su đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pha-ri-sêu để dùng bữa. Người nói với ông rằng : “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. 13 Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. 14 Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc : vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại.”

Suy niệm:
Hôm nay, Đức Giêsu xem ra cũng có vẻ bất thường khi nói với ông thủ lãnh những người Biệt Phái khi mời Ngài đến dự tiệc rằng: "Ông chớ mời các bạn hữu, nhưng hãy mời những người nghèo khó và tàn tật". Câu nói này của Đức Giêsu quả thật là bất thường theo lối suy hiểu của con người. Không chỉ có một lần này, mà đọc lại các trang Tin Mừng, chúng ta thấy có rất nhiều lần Đức Giêsu dùng lối nói như vậy. Chẳng hạn như: Hiến Chương Nước Trời và những lời chúc phúc. Phúc cho người nghèo, khóc lóc, đói khát, bắt bớ, tù đầy...; hay khi đưa ra nguyên tắc éo le cho những ai muốn theo mình: "Ai giữ mạng sống mình thì sẽ mất, ai đành mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ được sống đời đời"; hay "ai muốn làm lớn thì phải làm đấy tớ mọi người"; hoặc cứ để kẻ chết chôn kẻ chết...; còn khi nói về sự lựa chọn: Ngài đã lựa chọn: sẵn sàng bỏ 99 con chiên để đi tìm cho kỳ được 1 con chiên bị lạc; người đàn bà tìm được đồng xu đánh mất, thì lại mời cả xóm đế chung vui...
Tại sao Đức Giêsu lại có cái nhìn như thế? Thưa là vì Ngài có một cái nhìn Siêu việt, tức là cái nhìn hướng thượng, cái nhìn cứu độ.

Sống Lời Chúa:
+ Tập lắng nghe những ý kiến của những kẻ khác mình, xác tín rằng họ cũng có rất nhiều cái để mình học hỏi, để cho lại mình.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, Xin cho mọi thành viên trong gia đình chúng con, biết quan tâm đến người nghèo, để mà hy sinh và thực hành đức ái với họ.

Lẽ sống:
Con chỉ là một tên mọi đen

Hôm nay Giáo Hội kính nhớ thánh Martinô Porres.
Nhắc đến thánh nhân, người ta thường liên tưởng đến những ơn lạ lùng như xuất thần ngất trí trong khi cầu nguyện, như hiện diện ở hai nơi cùng một lúc, hoặc như có thể trò chuyện và điều khiển cả thú vật.
Vị thánh có lòng bác ái cao độ này lại xuất thân từ một hoàn cảnh vô cùng bi đát và đắng cay. Là con của một thiếu nữ da đen đã từng bị đem bán làm nô lệ vào một nhà quý tộc người Tây Ban Nha, Martinô đã được vị linh mục Rửa Tội ghi trong sổ bộ của giáo xứ là "con không cha". Quả thật, con không cha như nhà không nóc. Martinô đa lớn lên trong cảnh thiếu vắng tình cha mãi cho đến năm 8 tuổi.
Nhưng sau khi được chính thức thừa nhận không bao lâu, thì người cha lại bỏ rơi gia đình. Một lần nữa, cậu bé Martinô lại rơi vào cảnh khốn khổ như đa số các em bé nghèo của thành phố Lima, Pêru vào giữa thế kỷ thứ 16.
Nhưng cảnh nghèo ấy đã không gieo vào lòng cậu bé mang hai dòng máu này chút đắng cay nào. Trái lại, cậu tiếp nhận mọi biến cố xảy đến trong cuộc sống như một thách đố, như một ân sủng.
Năm 12 tuổi, Martinô được học nghề hớt tóc và đôi chút xảo thuật của ngành giải phẫu. Vừa hành nghề như một người thợ hớt tóc, vừa như một y tá, Martinô đã đem hết sự hăng say và tận tụy của mình để phục vụ những người nghèo đồng cảnh ngộ.
Nhưng nhận thấy chỉ có thể sống trọn Ðức Ái trong một tu viện, Martinô đã đến gõ cửa một nhà dòng Ðaminh để xin được làm trợ sĩ trong nhà? Bí quyết nên thánh của thầy Martinô là sám hối cầu nguyện và phục vụ, nhất là phục vụ trong những công việc vô danh nhất. Lần kia, nhà dòng mang nợ đến độ không thể bảo đảm được các nhu cầu của các tu sĩ, thầy Martinô đã đến thưa với Bề trên như sau: "Thưa cha, con chỉ là tên mọi đen. Xin hãy bán con đi".
Sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình cho người khác, thầy Martinô cũng luôn nhận tất cả phần lỗi về mình.
Ôn lại gương hy sinh, cầu nguyện và bác ái của thánh Martinô, không những chúng ta chỉ chạy đến xin ngài bầu cử trong những lúc gặp gian nan thử thách, nhưng quan trọng hơn cả vẫn là lòng tín thác vào Chúa quan phòng của thánh nhân mà chúng ta cần học hỏi, nhất là trong giai đoạn gặp khó khăn này.
Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người. Ðó phải là niềm xác tín của chúng ta. Một Thiên Chúa quan phòng là Ðấng có thể biến tất cả những đắng cay, buồn phiền, thất bại, khổ đau trong cuộc sống con người thành khởi đầu của một nguồn ơn cao quí hơn. Cũng như loài ong chỉ rút mật ngọt từ bao nhiêu vị đắng cay của cánh hoa, cũng thế, người có niềm tin luôn có thể rút tỉa được những sức đẩy mới từ những thất bại rủi ro trong cuộc sống. Thánh Martinô đã không hận đời đen bạc vì bị người cha bỏ rơi, mà trái lại xem đó như một dịp may để cảm thông, để học hỏi và để phục vụ người khác hữu hiệu hơn. "Hạt lúa rơi xuống đất có mục nát đi mới trổ sinh được nhiều bông hạt". Ðó là định luật của cuộc sống. Thập giá trong cuộc sống thường là khởi đầu và cơ may cho một vươn lên cao hơn.
Chúng ta thường chạy đến khẩn cầu với thánh Martinô trong cơn hoạn nạn thử thách, chúng ta cũng hãy noi gương ngài để phó thác cho Tình Yêu quan phòng của Chúa, và nhất là xin Ngài cũng giúp chúng ta luôn biết lấy Tình Thương để thắng vượt những ngược đãi của người đời, cũng luôn biết sẵn sàng phục vụ và phục vụ bằng chính mạng sống của mình.