Thứ Hai, 25 tháng 8, 2014

Lời Chúa: thứ Ba XXI Thường Niên Năm A. 26.8.2014

PHÚC ÂM:   Mt 23, 23-26
"Phải làm những điều này, và không bỏ các điều kia".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: "Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình: các ngươi nộp thuế thập phân về bạc hà, hồi hương và thì là, còn những điều quan trọng hơn trong lề luật, là đức công bình, lòng nhân từ và lòng tin thì các ngươi lại bỏ qua; đáng lẽ phải làm những điều này và không bỏ các điều kia.
     "Hỡi những kẻ dẫn đường đui mù, các ngươi gạn lọc một con muỗi ra, nhưng lại nuốt trửng cả con lạc đà. Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình, vì các ngươi rửa bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong, các ngươi đầy gian tham và nhơ bẩn. Hỡi những người biệt phái đui mù, hãy rửa bên trong chén đĩa trước đã, để bên ngoài cũng được sạch".

Suy niệm:
Cần giữ thăng bằng cho cuộc sống: Đừng chỉ lo những việc lớn hay việc tương lai, cũng đừng quá chú trọng đến những việc nhỏ nhặt hay chỉ lo việc hiện tại.
Người khôn ngoan và nhân đức là người trung dung: sống hiện tại với cái nhìn về tương lai, lo việc lớn nhưng cũng không khinh thường việc nhỏ.
Các Bài đọc hôm nay giúp chúng ta nhận ra sự cần thiết của việc giữ thăng bằng cho cuộc sống.

Trong tình huynh đệ, Đức Thánh Cha Phanxicô đã có buổi gặp gỡ các đức giám mục Hàn Quốc vào chiều ngày 14.8.2014 nhân dịp ngài thăm đất nước này. Trong bài phát biểu, ngài đã nói:

"Anh em là con cháu của các vị tử đạo, là những người thừa kế chứng tá đức tin anh dũng của các vị nơi Chúa Kitô. Thật là điều đầy ý nghĩa sự kiện lịch sử Giáo Hội tại Hàn Quốc được khởi đầu với một cuộc gặp gỡ trực tiếp với Lời Chúa. Đó là một vẻ đẹp nội tại và sự toàn vẹn của sứ điệp Kitô, Tin Mừng và lời mời gọi hoán cải, canh tân nội tâm và sống đời bác ái".

Khi gợi lại gương sáng chứng nhân anh dũng của các thánh tử đạo và mời gọi Giáo Hội tại Hàn Quốc noi gương các ngài để tiếp bước trên con đường chứng nhân, hẳn Đức Thánh Cha cũng muốn tất cả mọi người noi gương đời sống yêu thương, tin tưởng và cậy trông nơi Chúa tuyệt đối như các thánh. Đồng thời, ngài cũng mời gọi mọi người hãy hồi tâm, hoán cải nếu chưa sống theo tinh thần Tin Mừng.

Thật vậy, hồn người tông đồ sẽ trống rỗng khi khái niệm hồi tâm không thường trực trong con người của mình.

Cũng vậy, chúng ta sẽ trở nên hình thức, hào nhoáng bên ngoài nếu không có những khoảnh khắc hoán cải để canh tân đời sống nội tâm.

Và, mọi chuyện trở nên "công dã tràng" khi không gieo vào đó hạt mầm bác ái, yêu thương qua lời nói, trong hành động và nơi phụng vụ.

Sư điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy làm một cuộc "thanh tẩy nội tâm". Tức là trở về với lòng mình để đối diện với Thiên Chúa, hầu thấy được điều nên làm và điều không nên làm. Điều đúng phát huy. Điều sai phải từ bỏ.

Nếu không "thanh tẩy nội tâm", có lẽ chúng ta không khác gì những kinh sư và Pharisêu khi xưa: họ luôn quan tâm đến bề ngoài mà bên trong thì không hề mảy may để ý. Họ lo rửa chén đĩa bên ngoài, nhưng bên trong tâm hồn thì toàn là "hôi thối, xấu xa" bởi những tham lam, ích kỷ và hận thù. Họ nói yêu thương, nhưng thực ra họ là những người phản lại sứ điệp "Yêu Thương" khi bất bao dung, vô cảm với người nghèo, bà góa và những người thấp cổ bé họng.
Sống Lời Chúa:
+ Người Do thái họ lo rửa sạch bên ngoài những đồ để chứa, còn họ lại không quan tâm những thức ăn của uống được chứa bên trong. Qua câu chuyện này Chúa muốn chúng ta quan tâm đến làm tốt đẹp tâm hồn, khi tâm hồn trong sạch và thánh thiện thì sẽ chiếu tỏa sự tốt lành cho mọi người chung quanh.
+ Đã bao lần chúng ta cũng đã từng lo lắng như những dân thành Thessalonica; nhưng một khi ngày lo sợ đã qua đi, chúng ta trở lại cuộc sống bình thường với những tội quen phạm và bất công quen làm, mà quên đi lời Chúa cảnh cáo “vào giờ các ngươi không ngờ thì Con Người sẽ tới.”
+ Đã bao lần chúng ta đã hành động giống như các Kinh sư và Biệt phái: Đọc kinh theo thứ tự và không bỏ sót kinh nào, nhưng không bao giờ để ý tới việc lỗi đức công bằng qua việc nói xấu người vắng mặt, hay không chịu bỏ công bỏ của để giúp cho các anh chị em đang thiếu thốn. Cần khôn ngoan để nhận ra tổng quát bức tranh của cuộc đời, các việc quan trọng phải làm trước khi chú trọng đến các việc nhỏ hơn.
+ Đã bao lần chúng ta bỏ lỡ bao cơ hội để học hỏi Lời Chúa, những buổi tĩnh tâm để nhìn ra những tội lỗi cần sửa và những nhân đức cần tập luyện, đưa con cái đến nhà thờ học giáo lý, sinh họat đòan thể … Thay vào đó, chúng ta chạy theo những hình thức bên ngoài như lo làm giầu, lo hưởng thụ. Nếu những bậc cha mẹ làm những điều này thì họ có khác chi những người dẫn đường mù quáng mà Chúa cảnh cáo hôm nay.
+ Đạo ở Việt Nam là đạo nhà thờ chứ không phải là đạo của cuộc sống.
1.     Công bình: Trộm cắp của công và của riêng, gian lận .v.v…
2.     Lòng nhân từ: chửi rủa nhau, lên án nhau, nói hành, nói xấu nhau .v.v…
3.     Lòng tin: Lường gạt, không giữ lời hứa, bất trung, bất tín .v.v…

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cho con được trở nên chứng nhân của Chúa cách trung thành. Có thế, con mới thực sự xứng đáng trở thành người loan truyền sứ điệp của Chúa cho anh chị em con. Xin Chúa ban cho mọi thành viên trong gia đình con luôn trau dồi đức hạnh, và sống lương tâm ngay thẳng, để nên gương sáng cho nhau trong cuộc sống.

Lẽ sống:
Gia đình là nền tảng của vũ trụ

Án Tử, người nước Tề, nổi tiếng là một người thanh liêm và thủy chung. Xuất thân từ một gia đình nghèo, Án Tử được vợ hy sinh buôn tảo bán tần để nuôi ăn học. Ðỗ đạt làm quan, Án Tử không bao giờ quên ơn ấy của vợ. Cuộc sống đầy cạm bẫy, ông vẫn một mực trung thành với vợ.
      Một hôm vua Cảnh Công đến thăm ở lại dùng bữa với Án Tử. Một người đàn bà đã già xuất hiện trong bữa tiệc. Khi Án Tử vừa giới thiệu người đàn bà đó là vợ mình, nhà vua ngạc nhiên đến sửng sốt. Ông đề nghị với Án Tử: "Ôi vợ khanh trông vừa già lại vừa xấu. Quả nhân có một đứa con gái vừa trẻ vừa đẹp, quả nhân muốn cho về hầu, khanh nghĩ sao?".
     Án Tử liền trả lời một cách dứt khoát, không chút do dự: "Nội tử của tôi nay thật già và xấu. Nhưng chúng tôi đã lấy nhau và ăn ở với nhau bao lâu nay, kể từ khi nàng còn trẻ đẹp. Xưa nay, đàn bà lấy chồng lúc còn trẻ cốt để nhờ cậy lúc già, lấy chồng lúc đẹp để nhờ cậy khi xấu. Nội tử tôi thường nhờ cậy tôi cũng như tôi đã từng nhận sự giúp đỡ của nội tử tôi. Nay, bệ hạ muốn ban ơn mưa móc là tùy ở bệ hạ, nhưng xin đừng để tôi phải mang tiếng là ăn ở bội bạc với nội tử của tôi".
Nói xong Án Tử lạy hai lạy, xin từ chối không lấy con gái của nhà vua.
   Gia đình là nền tảng của xã hội. Con người chỉ có thể sinh ra và lớn lên trong một gia đình. Trong cái nhìn Kitô, thì gia đình là một Giáo Hội nhỏ trong đó đức tin được thông ban và trưởng thành. 
   Nền tảng để gia đình được đứng vững đó là Tình Yêu. Nhưng Tình Yêu không là một cái có sẵn, mà là một giá trị luôn đòi hỏi sự xây dựng và vun xới của con người... Một gia đình hạnh phúc hay không, tất cả đều tùy thuộc ở sự phấn đấu xây dựng từng ngày của con người.
   Hai cử chỉ dường như được gắn liền với nhau trong chuyến viếng thăm quê hương dạo tháng 5/1987 của Ðức Gioan Phaolo II, đó là: viếng mộ song thân và cử hành Thánh Lễ đặc biệt cho các đôi vợ chồng.
      Cây tốt thường sinh trái tốt: con người của Ðức Gioan Phaolô II là hoa trái Tình Yêu của cha mẹ ngài. Viếng mộ của song thân, Ðức Thánh Cha không những nói lên niềm tri ân của ngài đối với bậc sinh thành, nhưng ngài còn muốn đề cao giá trị của đời sống hôn nhân.
     Giữa đời thời đại mà đời sống hôn nhân và gia đình bị lay động đến tận gốc rễ, Ðức Thánh Cha muốn gióng lên một tiếng kêu vô cùng thảm thiết: hãy trung thành với nhau.
    Trong Thánh Lễ cầu nguyện cho gia đình, qua đó các đôi vợ chồng hiện diện được mời gọi lập lại lời thề hứa trong hôn phối, Ðức Thánh Cha đã lập lại ý nghĩa và giá trị của Bí Tích Hôn Phối. Ngài nói như sau: "Khi quỳ gối trước bàn thờ trong ngày cưới, các đôi vợ chồng đã thề hứa với nhau cho đến cùng. Họ thề hứa với nhau như thế trước mặt Thiên Chúa. Lời cam kết này phản ánh chính lời hứa của Chúa Giêsu rằng Ngài yêu họ và yêu cho đến cùng".
   "Tôi hứa sẽ giữ trung thủy với em khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đời tôi".
   Khi tuyên hứa với nhau như thế, hai người đã lập lại chính cam kết của Chúa Giêsu, Ðấng đã yêu thương và yêu thương cho đến cùng.
    Yêu cho đến cùng nghĩa là chấp nhận cái chết từng ngày. Tình yêu hôn nhân là một hạt giống: có được chôn vùi, có mục nát đi mới sinh hoa kết trái. Luật của đời sống hôn nhân chính là luật của hy sinh, của chiến đấu, của chính sự chết. Nhưng cũng chính khi con người biết chối bỏ chính mình bằng hy sinh, con người sẽ gặp lại chính mình trong người khác... Ðó là lẽ sống mà Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta.

Một câu chuyện có thật đã xảy ra tại Mỹ.

Trong cửa hàng của một thị trấn nhỏ, một thanh niên cao lớn nhanh nhẹn đứng bán hàng. Ngày nọ, có bà già nhà quê vào mua hàng. Cậu trao cho bà món hàng và lấy tiền. Tối hôm đó, khi kiểm tra tiền, cậu thấy dư ra vài xu. Cậu cố nhớ lại những người mua ngày hôm đó, và thấy số tiền dư đúng là của bà già nọ. Cậu đặt mấy xu đó vào túi, lấy mũ, đóng cửa và đi bộ lại nhà bà già cách đó 3 dặm. Cậu thiếu niên đó chính là Abraham Lincoln, sau là tồng thống Hoa Kỳ.

Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2014

Lời Chúa: thứ Hai XXI Thường Niên Năm A. 25.8.2014

PHÚC ÂM:   Mt 23, 13-22
"Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ dẫn đường đui mù".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
      
Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: "Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình! Vì các ngươi đóng cửa nước trời không cho người ta vào: vì các ngươi không vào, mà kẻ muốn vào, các ngươi cũng chẳng để cho vào. 

      "Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình! Vì các ngươi đọc kinh cho dài để nuốt tài sản của các bà goá, bởi thế, các ngươi sẽ chịu phán xét nặng hơn.
      "Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình! Vì các ngươi rảo khắp biển khơi và lục địa, để tìm cho được một người tòng giáo, nhưng khi đã cho người đó tòng giáo, các ngươi làm cho nó trở thành con cái hoả ngục gấp hai lần các ngươi.
      "Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ dẫn đường đui mù! Vì các ngươi nói rằng: Ai lấy đền thờ mà thề, thì không có giá trị gì, nhưng ai lấy vàng trong đền thờ mà thề, thì mắc lời thề. Hỡi kẻ ngu ngốc và đui mù, chớ thì vàng hay là đền thờ thánh hoá vàng, cái nào trọng hơn? Các ngươi còn bảo rằng: Ai lấy bàn thờ mà thề, thì không giá trị gì, nhưng ai lấy của lễ để trên bàn thờ mà thề, thì mắc lời thề. Hỡi những kẻ đui mù, chớ thì của lễ hay là bàn thờ thánh hoá của lễ, cái nào trọng hơn?
      "Vậy ai lấy bàn thờ mà thề, thì lấy cả bàn thờ và mọi sự để trên bàn thờ mà thề. Kẻ nào lấy đền thờ mà thề, thì lấy cả đền thờ và Đấng ngự trong đền thờ mà thề. Và kẻ nào lấy trời mà thề, thì lấy ngai toà Thiên Chúa và Đấng ngự trên ngai toà ấy mà thề".
Suy niệm
Thủ tướng Ghandi có lần nhận xét: “Nếu tất cả các Kitô hữu sống đúng những gì Chúa dạy, có lẽ cả thế giới đã tin vào Ngài”.

Thật vậy, các Kitô hữu là những người có chung một niềm tin nơi Thiên Chúa, nhưng không phải ai cũng thực hành những gì Ngài dạy. Các bài đọc hôm nay cho chúng ta thấy những ví dụ cụ thể về hai lối sống của những người cùng một niềm tin vào Thiên Chúa.

Mahatma Gandhi là anh hùng dân tộc Ấn Độ, ông đã chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân của Đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ với sự ủng hộ nhiệt liệt của hàng triệu người dân. 
Lúc còn là sinh viên, ông say mê đọc Kinh Thánh và có ý định gia nhập đạo Công Giáo vì ông thấy giáo lý của Đức Giêsu về "đạo yêu thương" quá tuyệt vời. Nhưng vào một lần, ông đi đến nhà thờ của người da trắng để dự lễ, ngay lập tức, ông bị ngăn lại và được mời đến nhà thờ của người da đen, vì nơi đây không phải là nhà thờ của người da đen. Mahatma Gandhi ra về và cũng kể từ đó, ông không bao giờ đến nhà thờ và quyết liệt từ bỏ ý định trở thành người Công Giáo vì hành động phản yêu thương của những người da trắng.

Thật vậy, trong xã hội ngày hôm nay, vẫn còn đó những hình ảnh, cử chỉ của người Công Giáo như những người da trắng trong câu chuyện trên. Họ là những người giả hình "hạng ưu". 

Tại sao vậy, thưa! Ấy là lúc chúng ta nói những lời tốt đẹp. Khuyên người ta ăn ngay ở lành. Phải bao dung, tha thứ. Phải nâng đỡ những cô nhi quả phụ. Phải đứng về phía người nghèo. Phải khước từ bóc lột, áp bức... Những lời khuyên như vậy rất "kêu", rất "trội" và rất "thánh"... 

Tuy nhiên, khi chính bản thân phải đối diện thì hẳn chúng ta lại là những người "sụt hố" đầu tiên chỉ vì một điều đơn giản là: "Nói mà không làm. Hăng say chất những gánh nặng lên vai người khác, nhưng chính mình thì lại không buồn động ngón tay vào". Tệ hơn nữa lại tìm cơ hội để trả thù nhân danh đạo đức, lề luật... 

Những lúc như thế, chúng ta đâu có khác gì những kinh sư và Pharisêu mà trong bài Tin Mừng hôm nay đã bị Đức Giêsu vạch trần tội ác của họ?

Bên ngoài thơn thớt nói cười, 
Mà trong nham hiểm giết người không dao.

Đứng trước thử thách và đau khổ, những người theo lối sống giả hình sẽ tìm cách nêu lên mọi lý do để biện minh cho hành động nhát đảm sợ sệt của mình. Họ sẽ cố gắng che đậy sự ích kỷ trong lòng bằng những hành động giả ân nghĩa bên ngoài.
Sống Lời Chúa:
+ “Họ tìm kiếm người vào đạo rồi lại biến nó thành con cái hỏa ngục gấp đôi” (Mt 23,15).
+ “Hỡi con đừng khinh thường việc Chúa sửa dạy và đừng nhàm chán Lời Người quở mắng. Vì chúa quở mắng kẻ Người thương mến, như người cha quở mắng đứa con ông yêu dấu” (Cn 3,11-12).
+ “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ga 10,27).
+ “Ai khen ta mà khen đúng, ấy là bạn ta. Kẻ nịnh hót tâng bốc ta, nó là thù ta. Người chê ta mà chê đúng, đấy là thầy ta” (x Mt 23).
+ Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy trở nên chứng nhân cho Chúa qua hành động tốt của mình. Nói cách khác, muốn dạy người khác điều gì, chính chúng ta phải là những người đã sống và cảm nghiệm trước khi khuyên bảo người khác. Làm tất cả vì vinh danh Chúa, chứ không phải lấy Chúa làm "bình phong" để "tô son chát phấn" để đề cao danh dự, tiếng tăm cho bản thân mình.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cho con biết trở nên những người loan báo Lời Chúa bằng chính đời sống của mình, xin cho mọi thành viên trong gia đình con luôn chân thành sống với nhau, để đem lại niềm vui và sức sống cho cả gia đình.

Lẽ sống:
Giấc mơ của một Thi sĩ

Thi sĩ Sully Prudhomme, người Pháp đã có lần tưởng tượng ra một giấc mơ như sau:
     Ông mơ thấy một nhà nông bảo ông hãy cầm cày lấy đất, trồng lấy lúa, gặt lấy thóc, làm lấy gạo mà ăn. Ông mơ thấy người thợ dệt bảo ông hãy đánh lấy chỉ, dệt lấy áo mà mặc. Ông mơ thấy người thợ nề bảo ông hòa lấy vữa, xây lấy nhà mà ở. Còn gì nữa? Ông đã thấy mọi người bỏ ông, xa lánh ông, để ông trơ trọi với cảnh vật. Ông kinh hãi. Ông kêu cầu, khẩn hứa nhưng chỉ thấy mãnh thú xuất hiện trên đường.
     Có lẽ không có bao nhiêu người đã mơ giấc mơ nói trên. Nhưng chắc chắn nhiều người chỉ nghĩ đến mình, tưởng rằng một mình có thể sống giữa vũ trụ, không cần đến ai, không cần ai giúp đỡ.
Không ai là một hòn đảo. Chúng ta đều bị ràng buộc với mọi người, chúng ta đổi công việc của chúng ta với công việc của người khác, chúng ta phụng sự người vì người đã phụng sự chúng ta.
     Nhưng chúng ta không chỉ sống trong tình liên đới về mặt vật chất. Con người còn liên đới nhau về mặt hạnh phúc và đau khổ. Không ai hạnh phúc một mình và không ai một mình có thể chịu nổi sự đau khổ. Nhờ người, ta mới vui và nhờ người, ta mới trút bớt những cơ cực của ta. Thế giới này quá nặng khiến một người có thể mang nổi và sự khổ cực của vũ trụ quá lớn cho một trái tim.

Thứ Bảy, 23 tháng 8, 2014

Lời Chúa: Chúa Nhật XXI TN - năm A. 24.8.2014

PHÚC ÂM:   Mt 16, 13-20
"Con là Đá, Thầy sẽ ban cho con chìa khoá nước trời".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt thành Xêsarêa Philipphê, và hỏi các môn đệ rằng: "Người ta bảo Con Người là ai?" Các ông thưa: "Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó". Chúa Giêsu nói với các ông: "Phần các con, các con bảo Thầy là ai?" Simon Phêrô thưa rằng: "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Chúa Giêsu trả lời rằng: "Hỡi Simon con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Vậy Thầy bảo cho con biết: Con là Đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được. Thầy sẽ trao cho con chìa khoá nước trời: sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở". Bấy giờ Người truyền cho các môn đệ đừng nói với ai rằng Người là Đức Kitô.
       Kể từ đó, Chúa Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ thấy: Người sẽ phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ bởi các kỳ lão, luật sĩ và thượng tế, phải bị giết, và ngày thứ ba thì sống lại. Phêrô kéo Người lại mà can gián Người rằng: "Lạy Thầy, xin Chúa giúp Thầy khỏi điều đó. Thầy chẳng phải như vậy đâu". Nhưng Người quay lại bảo Phêrô rằng: "Hỡi Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy, con làm cho Thầy vấp phạm, vì con chẳng hiểu biết những sự thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ hiểu biết những sự thuộc về loài người".
Suy niệm
Anh em bảo Thày là ai?
Là người tín hữu, có những lúc chúng ta được mời gọi trả lời cho một câu hỏi rất đơn sơ nhưng lại là cốt lõi của đời sống Đức tin: Chúa Giê-su là ai đối với tôi? Cách thức trả lời cho câu hỏi này xác định căn tính của đời sống Ki-tô hữu. Nói cách khác, người ta có thể dựa vào câu trả lời này mà nhận định chất lượng đời sống Đức tin của chúng ta. Có nhiều người quan niệm về Đức Giê-su như một nhân vật huyền thoại, hoặc chỉ là một vĩ nhân như bao vĩ nhân khác của lịch sử. Một số khác lại coi Chúa như một chính trị gia, hay chỉ là một bậc thày về những tư tưởng đạo đức. Họ kính trọng Chúa, nhưng không công nhận Người là Thiên Chúa.
Chắc hẳn các môn đệ đã nghe người ta nói nhiều về Thày mình với những lời tung hô, khen ngợi, vì họ được chứng kiến những phép lạ Chúa làm. Tuy vậy, thực sự Chúa Giê-su là ai, xem ra các ông vẫn chưa nắm chắc. Các ông theo Chúa nhưng chưa xác định chắc chắn Người là ai. Các ông chỉ thấy người ta nói Thày là một trong những nhân vật nổi tiếng của thời xưa đã tái xuất hiện. Khi được hỏi, các ông cảm thấy lúng túng và tìm cách sàng lọc những lời đồn thổi để có câu trả lời. Tóm lại, khái niệm các ông có về Thày mình là khái niệm đi mượn của dư luận quần chúng.
Anh em bảo Thày là ai?”. Người tín hữu chân chính phải xác định rõ Chúa Giê-su là ai trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa và Người là ai đối với đời sống của mình. Một Đức tin mờ nhạt mông lung không thể làm nền tảng cho cuộc đời của người tín hữu. Nó giống như ngôi nhà được xây trên cát, lúc bão tố mưa sa dễ dàng bị đổ sập. Một lối sống chỉ dựa vào dư luận của đám đông mà không dựa trên những tiêu chuẩn của giáo huấn Tin Mừng sẽ không chắc chắn vì luôn bị thay đổi cho hợp thời.
Thánh Phê-rô đã đưa ra một câu trả lời chính xác về thân thế và sứ mạng của Chúa. Ông tuyên xưng Người là “Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Câu trả lời này được Chúa xác nhận, và Người còn cho biết đây là mặc khải của Chúa Cha chứ không phải tư tưởng phàm nhân. Điều này chứng minh cho chúng ta thấy Đức tin là một ân ban của Thiên Chúa, cộng với sự thành tâm đón nhận của con người. Thiên Chúa tỏ mình cho con người để cho họ được thông phần vinh quang với Ngài. Nhờ việc nhận biết Chúa, con người đạt được hạnh phúc và họ bước đi trong đường lối của Ngài để trở nên thánh thiện. Lịch sử cho thấy, có biết bao người nam nữ đón nhận Chúa trong cuộc đời và họ đã trở nên những vị thánh, tức là trở nên giống Chúa, được chia sẻ một phần vinh quang của Ngài. Như vậy, khi tin tưởng và cậy trông vào Chúa, chúng ta trở nên những người có phúc, vì chính Chúa soi sáng và mạc khải để chúng ta nhận ra Ngài. Chúa Giê-su phục sinh đã nói với tông đồ Tô-ma “Phúc cho những ai không thấy mà có lòng tin” (Ga 20,29).
       Lời Chúa hôm nay cũng khẳng định quyền bính Giê-su ban cho thánh Phê-rô là vị tông đồ trưởng. Quyền bính này, Chúa cũng ban cho Giáo Hội, mà người đứng đầu là Đức Giáo Hoàng, đấng kế vị thánh Phê-rô. Sau lời tuyên xưng Đức tin của vị tông đồ, Chúa đã đổi tên cho ông từ Simon thành Phê-rô, nghĩa là Đá Tảng. Người cũng trao cho ông quyền cầm buộc và quyền tháo cởi. Người Do Thái hiểu quyền “cầm buộc và tháo cởi” với nghĩa “xác định rõ điều gì là cấm và điều gì là cho phép”. Với quyền cầm buộc và tháo cởi này, Chúa ủy quyền cho Giáo Hội được tuyên bố những gì là hợp với ý Chúa trong đời sống Đức tin cũng như đối với những chuẩn mực cho đạo lý luân thường. Đây cũng là nền tảng cho giáo huấn của Giáo Hội về ơn vô ngộ (ơn không thể sai lầm) của Đức Giáo Hoàng và của các công đồng chung, khi long trọng tuyên bố những quan điểm liên hệ đến Đức tin và luân lý. Giáo Hội được ủy thác thay mặt Chúa để hướng dẫn con người đạt tới sự thánh thiện. Giáo Hội là một người mẹ, cưu mang, sinh hạ và chăm sóc các tín hữu. Ai nghe lời Giáo Hội là nghe lời Chúa. Ai hiệp thông với Giáo Hội là hiệp thông với Chúa. Giáo Hội không chỉ là cơ chế của loài người, nhưng trước hết là một tổ chức do Chúa Giê-su thiết lập, là trung gian thông chuyển ơn cứu độ đến cho hết mọi người. Chính Giáo Hội quản lý kho tàng Đức tin và có sứ mạng thông truyền Đức tin cho con người thuộc mọi thời đại và mọi nền văn hóa.
  Phần các con, các con bảo Thầy là ai?”. Chúa Giê-su vẫn đang đặt câu hỏi ấy đối với mỗi tín hữu chúng ta. Câu hỏi ấy được đặt ra trong cuộc sống đời thường, nhất là trong cuộc gặp gỡ giữa chúng ta với Chúa, vào lúc sau hết của cuộc đời. Chúng ta không chỉ trả lời bằng môi miệng hay bằng lý thuyết, nhưng bằng chính cuộc sống cụ thể của mình. Thái độ sống của người tín hữu chính là sự phát biểu của mình về sự hiểu biết và yêu mến Chúa. Không thể vừa tuyên xưng Chúa Giê-su là Chúa của đời mình, vừa sống trái ngược với Tin Mừng Người rao giảng. Không thể vừa tuyên xưng Đức Giê-su là Sự thật, vừa sống trong sự dối trá với anh chị em mình.
  Thày là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Ước chi đó cũng là lời tuyên xưng của mỗi người tín hữu chúng ta trong mọi bối cảnh của cuộc đời.
Đức Cha Giuse Vũ Văn Thiên
Giám mục Hải Phòng
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, nhờ Giáo Hội của Chúa, mà chúng con nhận ra Chúa là Chúa; là Con Một Thiên  Chúa là Đấng Cứu Độ chúng con. Xin cho mọi thành viên trong gia đình chúng con luôn học biết về Chúa để chúng con được sống trong tình thương của Chúa.

Lẽ sống:
Tách nước tràn đầy

Ðể đả phá sự kiêu ngạo, người Nhật Bản thường kể câu chuyện sau: Có một nhà hiền triết nọ nổi tiếng về sự khôn ngoan và kiến thức. Ai ai cũng tìm đến vấn kế.
   Ðể kiểm chứng điều đó, một hôm có một giáo sư đại học đến xin tiếp kiến nhà hiền triết. Ông trang bị cho mình không biết bao lý lẽ và kiến thức.
   Khi ông giáo sư đại học an tọa trong phòng khách, nhà hiền triết mới đưa một bình trà thật nóng ra tiếp khách. Ông bắt đầu rót nước vào tách của ông giáo sư. Những giọt nước trà nóng hổi không mấy chốc đã tràn ra tách, nhưng nhà hiền triết vẫn điềm nhiên rót tiếp. Nước tràn ra cả khay... Ông giáo sư nhìn nước tràn ra khay rồi nghĩ thầm trong lòng: thì ra con người mà thiên hạ tôn thờ như bậc thánh hiền chỉ là một con người lơ đễnh, bất chấp... Không còn đủ kiên nhẫn nữa, vị giáo sư mới nói lớn: "Thưa ngài tách trà đã đầy tràn, nước đang chảy lai láng ra bên ngoài cả khay kìa".
      Lúc bấy giờ nhà hiền triết mới dừng tay lại và nói: "Cũng giống như tách này, đầu óc của ông tràn đầy văn hóa, kiến thức, tư tưởng và những định kiến. Nếu ông không dốc cạn tách trà của ông, thì làm sao tôi có thể nói với ông về triết thuyết của tôi, bởi vì triết thuyết của tôi chỉ dành cho những con người đơn sơ và cởi mở".
     Có dốc cạn tâm hồn, có trở nên nghèo nàn, con người mới có thể được Thiên Chúa lấp đầy. Cái nghịch lý lớn nhất của cuộc đời là khi con người tìm cách lấp đầy tâm hồn mình bằng những của cải chóng qua ở đời này, thì đó cũng là lúc con người cảm thấy trống vắng nhất trong tâm hồn. Trái lại, càng dốc cạn chính mình, càng trở nên nghèo nàn, con người càng được Thiên Chúa lấp đầy, con người càng tìm thấy bình an và hạnh phúc đích thực.

Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2014

Lời Chúa: thứ Bảy XX Thường Niên Năm A. 23.8.2014

PHÚC ÂM:   Mt 23, 1-12
"Họ nói mà không làm".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng và các môn đệ rằng: "Các Luật sĩ và các người biệt phái ngồi trên toà Môsê: vậy những gì họ nói với các ngươi, các ngươi hãy làm và tuân giữ, nhưng đừng noi theo hành vi của họ: vì họ nói mà không làm. Họ buộc những bó nặng và chất lên vai người ta: còn chính họ lại không muốn giơ ngón tay lay thử. Mọi công việc họ làm đều có ý cho người ta thấy: vì thế họ nới rộng thẻ kinh, may dài tua áo. Họ muốn được chỗ nhất trong đám tiệc và ghế đầu trong hội đường, ưa được bái chào nơi đường phố và được người ta xưng hô là "Thầy". Phần các ngươi, các ngươi đừng muốn được người ta gọi là "Thầy", vì các ngươi chỉ có một Thầy, còn tất cả các ngươi đều là anh em với nhau. Và các ngươi cũng đừng gọi ai dưới đất là "cha", vì các ngươi chỉ có một Cha, Người ngự trên trời. Các ngươi cũng đừng bắt người ta gọi là "người chỉ đạo": vì các ngươi có một người chỉ đạo, đó là Đức Kitô. Trong các ngươi ai quyền thế hơn sẽ là người phục vụ các ngươi. Hễ ai tự nhắc mình lên, sẽ bị hạ xuống, và ai tự hạ mình xuống, sẽ được nâng lên".
Suy niệm
Các Bài đọc hôm nay lại một lần nữa dạy con người những nguyên tắc căn bản trên. Trong bài đọc I, ngôn sứ Ezekiel nhắc nhở cho con cái Israel sự hiện diện của Thiên Chúa trong Đền Thờ, để họ đừng làm cho Đền Thờ ra ô uế như vua chúa và các tiền nhân của họ. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu khuyên dân chúng chú trọng đến đạo lý các kinh sư và biệt phái dạy họ; nhưng đừng làm những gì họ làm, vì họ không thực hành những điều họ dạy.
Phần đầu của bài Tin Mừng cho thấy sự giả hình của một số người pharisêu, có quyền giảng dạy Lề Luật. Giả hình là không làm điều mình dạy người khác, là dễ dãi với chính mình, nhưng khắt khe với tha nhân. Giả hình là biến việc thờ phượng Chúa thành thờ mình, làm việc tốt để người ta thấy và thán phục.
Khi nhìn khuôn mặt của người pharisêu giả hình, tôi thấy tôi: háo danh, khoa trương, ích kỷ,
dám “đốc” chứ không dám làm...
Nửa sau của bài Tin Mừng hôm nay có thể làm chúng ta bị sốc. Ðức Giêsu bảo ta đừng để ai gọi mình là thầy, vì chỉ có một Thầy, một vị lãnh đạo là chính Ngài; cũng đừng gọi ai là cha, vì chỉ có một Cha là Thiên Chúa trên trời.
Vậy mà chúng ta vẫn gọi nhiều vị trong Hội Thánh là cha, là Ðức Thánh Cha, là giáo phụ, thượng phụ, viện phụ... Chúng ta có làm sai lời Chúa dạy không? Ta có phải hiểu theo nghĩa đen lời của Ðức Giêsu không?
Đức Giêsu nêu hai khuôn mặt người sống Đạo dựa vào Luật Môsê :
ü Ký lục : Là người sao chép và dạy Luật Môsê,dưới mắt người Do Thái,họ là thầy dạy chính thức hay là giáo lý viên rất mẫu mực.
ü Biệt phái : Đây là loại người cuồng nhiệt giữ luật Môsê. Họ giữ cặn kẻ từng chi tiết của Luật, bởi đó họ rất tự mãn là người công chính, hay lên mặt khinh dể người khác (x Lc 18,9). 
Hai loại người trên thường khoe khoang cách sống Đạo của họ:
ü Họ đeo thủ phù (x Mt 23,5b) : Theo Luật Môsê trong sách Xh 13,9 ; Dnl 6,8, buộc mọi người vào giờ cầu nguyện phải đeo thủ phù trên trán, cột nơi cổ tay, và đọc : “Lạy Chúa, Vua hoàn vũ, chúc tụng Ngài đã thánh hóa chúng con bằng huấn lệnh Ngài, và đã truyền cho chúng con mang lấy thủ phù này”.
ü May dài tua áo  (x Mt 23,5c) : Đó là một chùm lông bằng len hay lụa có nhiều màu sắc, đính vào bốn góc tấm vải làm áo choàng của người Do Thái, mục đích nhắc nhở họ thường xuyên nhớ đến Luật Chúa và đem ra thực hành (x Ds 15,37-39). Chính áo choàng của Đức Giêsu cũng đính chùm lông này (x Lc 8,44).
ü Biệt phái tìm chỗ nhất trong tiệc tùng và chỗ danh dự nhất nơi hội đường (x Mt 23,6). Chỗ nhất nơi hội đường là chỗ quay mặt vào dân, xây lưng lại tráp Lề Luật (tráp Lề Luật đặt giữa chính diện hội đường, tượng trưng cho nơi cung thánh của Đền Thờ Giêrusalem có đặt hai bia đá ghi Mười Giới Răn Chúa). Như thế, họ muốn mọi người phải tôn trọng danh dự của họ như tôn trọng Luật Chúa.
ü Những người Biệt phái ưa được mọi người bái chào nơi công trường và được người ta xưng hô là Rabbi (x Mt 23,7). Danh hiệu Rabbi bởi tiếng Hy Bá là “Rab” có nghĩa là “Lớn”, thời Đức Giêsu lại có nghĩa là “Chúa”. Người ta thường thêm một tiếp vĩ ngữ của ngôi thứ nhất thành “Rabbi”, có nghĩa là “Chúa tôi”. Khi nói cách long trọng, người ta gọi là “Rabbuni” (x Ga 20,16), cũng có nghĩa như chữ Rabbi, đây là danh tương đương với chức Tiến sĩ. Như muốn mọi người phải kính trọng họ như Thiên Chúa.
Hãy trở nên chứng nhân. Đức cố Giáo hoàng Phaolô VI đã nói như sau: "Người thời nay sẵn sàng nghe những chứng nhân hơn là thầy dạy và người ta có nghe theo thầy dạy là vì thầy dạy cũng là chứng nhân" (Thông điệp "Evangelii Nuntiandi" số 41). Còn thánh Augustinô thì nói: "Chúng ta là tiếng, Đức Giêsu là Lời, là nội dung của tiếng, của âm thanh".
Như vậy, người rao giảng Lời Chúa, phải là người trung thành. Trung thành với Lời Chúa và sứ điệp của Ngài. Trung thành với sứ vụ qua lời loan báo. Trung thành với nội dung Tin Mừng. Không thể chấp nhận người tông đồ ra đi loan báo Lời Chân Lý, mà họ lại thuộc về thành phần: "ngôn hành bất nhất", tức là không thật, hai lòng, nói một đàng, làm một nẻo.
Sự giả tạo này được Đức Giêsu cho thấy qua hình ảnh những người Pharisêu: "Họ là những người nói mà không làm. Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ lại không buồn động ngón tay vào"; mặt khác, họ còn là những người thích sống hình thức đến độ: "Nới rộng thẻ kinh, may dài tua áo. Họ muốn được chỗ nhất trong đám tiệc và ghế đầu trong hội đường, ưa được bái chào nơi đường phố và được người ta xưng hô là 'Thầy'. Đức Giêsu không muốn để các môn đệ của mình rơi vào tình trạng như vậy, nên Ngài quay sang các ông và nói: "Phần các con thì không được vậy...".
Vì thế, người tông đồ phải là người: "nhất ngôn, nhất hành", nếu không, thay vì làm chứng, chúng ta lại rơi vào tình trạng phản chứng.
Thoạt nghe, chúng ta có thể dè lưỡi, bữu môi khinh chê những người kinh sư và Pharisêu! Nhưng thực ra, nếu lắng đọng lại một chút thì hẳn lời trách móc của Đức Giêsu khi xưa lại là lời cảnh tỉnh cho chính chúng ta hôm nay.
Thật vậy, đã biết bao lần chúng ta sống trong cung cách của những kẻ bất nhân. Không khoan nhượng. Không cảm thông. Sống lối sống xa hoa, hình thức, kỳ thị, ích kỷ, kiêu căng, trác táng, ngông nghênh, ngạo nghễ và xét đoán...
Những lúc như thế, ấy là lúc nhãn hiệu Pharisêu, vẫn lủng lẳng quanh cổ chúng ta! Và như một hệ lụy, chúng ta nói về Chúa là đấng nhân từ, hiền hậu, khiêm nhường và yêu thương làm sao khi hình ảnh của Ngài đang méo mó nơi hành động xấu xa, lời nói chua chát, lối sống buông thả... của ta! Như vậy, chúng ta trở thành những người đang phá hoại sứ điệp yêu thương của Chúa.
Sống Lời Chúa:
+ Luật sĩ và Biệt phái bám vào luật Môsê tự tôn mình lên, không cần tin vào Chúa Giêsu, thì sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống, tức là không cậy dựa vào sức mình, cũng không chỉ giữ Lề Luật, mà trông cậy được kết hợp với Chúa Giêsu, thì sẽ được tôn lên.
+ Lời Chúa hôm nay nhắn gửi chúng ta cần phải tránh những thứ xa hoa, diêm dúa bên ngoài. Hãy tập trung vào cốt lõi của Tin Mừng là yêu thương, chứ đừng giả dối như những kinh sư và người Pharisêu khi xưa.
+ Chúa luôn đòi con người chú trọng đến đời sống tinh thần bên trong hơn là những nghi thức hoành tráng bên ngòai; đến mối liên hệ sâu đậm với Thiên Chúa và giữ các điều răn của Ngài hơn là những danh xưng hào nhoáng và giữ các tập tục của con người.
+ Đền thờ hay thánh đường là nơi Thiên Chúa ngự; mỗi khi đến những nơi đó chúng ta cần có thái độ cung kính và khiêm nhường để học hỏi và cầu nguyện với Chúa. Đó không phải là nơi phô trương các việc đạo đức hay tài năng cho người khác nhìn thấy để bái phục và khen thưởng; càng không phải là nơi để trình diễn thân thể hay thời trang làm chia trí người khác.
+ Thân xác con người là đền thờ của Thiên Chúa, chúng ta cần phải chú trọng đến sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn và biết quí những nét đẹp và giá trị bên trong thay vì những hào nhoáng và các giá trị bên ngoài.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, nhiều khi con tìm mọi cách để uốn nắn ý của Chúa theo ý con. Nhiều khi con tìm vinh dự và muốn được trọng vọng bản thân thay vì làm vinh danh Chúa. Những lúc đó, con đã đi sai đường, trệch lối theo tinh thần của Chúa, xin Chúa tha thứ tội lỗi cho con, xin giúp con biết đối xử với mọi người trong khiêm tốn hiền hòa.

Lẽ sống:
Hoa đầu mùa của Châu Mỹ

Hôm nay Giáo Hội kính nhớ thánh Rosa Lima, vị thánh đầu tiên của Châu Mỹ. Thánh nữ có hai đặc điểm mà dường như vị thánh nào cũng có, đó là: bị chống đối và sống khắc khổ.

Chọn thánh nữ Catarina Siena làm mẫu mực, Rosa quyết sống trọn vẹn cho Thiên Chúa. Sợ nhan sắc của mình có thể quyến rũ nhiều người cũng như làm cớ vấp phạm cho chính mình, Rosa đã lấy tiêu thoa lên mặt để biến mình thành một người xấu xí. Cô cũng lấy thép cuốn thành vòng gai nhọn đội trên đầu.

Nhưng Rosa không phải là một con người mơ mộng viển vông. Khi thấy gia đình gặp khó khăn về kinh tế, Rosa đã hy sinh làm lụng suốt ngày ngoài đồng và tối về may vá suốt đêm để kiếm tiền đắp đổi cho gia đình. Sống cho cha mẹ, lo cho gia đình, nhưng Rosa vẫn quyết tâm dâng hiến trọn đời cho Chúa. 
    Cô đã mất mười năm để chống lại ý định của cha mẹ nhằm cưỡng bách cô phải lập gia đình. Và cuối cùng, vì cha mẹ cũng không chấp nhận cho cô vào dòng, Rosa đã gia nhập vào dòng ba thánh Ða Minh. Như thế cô vừa sống được lý tưởng tu dòng vừa sống thánh giữa đời.
     Trong những năm cuối đời, Rosa dành một phòng trong nhà để đón tiếp trẻ em không nhà không cửa và những người già cả bệnh tật. Ðây là một trong những hình thức hoạt động xã hội đầu tiên tại Pêru.

Rosa qua đời năm 31 tuổi. Cả thành phố Lima thương khóc cô như một vị thánh trẻ đã kết hợp tinh thần chiêm niệm, khổ chế với hoạt động bác ái.

Thánh Rosa kể lại rằng trong một giấc mơ, ngài được Chúa dẫn đến một xưởng điêu khắc dành cho những người muốn nên thánh. Thánh nhân chứng kiến cảnh không biết bao nhiêu người đang ngồi trước các khối đá cẩm thạch. Có người sắp hoàn thành xong một tác phẩm nghệ thuật. Có người chỉ mới bắt đầu đục đẽo trên một phiến đá sần sù, cứng nhắc. Thánh nữ cũng được Chúa trao cho những đồ nghề cần thiết và đặt ngồi trước một phiến đá lớn. Người mẫu của tác phẩm chính là hình ảnh mà Thiên Chúa đã đặt để từ đời đời trong thánh nữ.
Mỗi ngày chúng ta kính nhớ một vị thánh. Mỗi một vị thánh là một nhắc nhở chúng ta về ơn gọi nên thánh của mỗi người chúng ta. Không một vị thánh nào giống vị thánh nào. Không ai bắt buộc phải sống khuôn dập theo bất cứ một mẫu mực nào. Mỗi người là một vị thánh cá biệt. Nhưng tất cả đều có một mẫu số chung: đó là họa lại hình ảnh của Thiên Chúa trong cuộc đời của mình.
Và hình ảnh mà Thiên Chúa muốn mỗi người chúng ta họa lại trong cuộc đời của chính mình là Ðức Giêsu Kitô. Nhưng người Kitô không chỉ sống như Ðức Kitô, mà còn sống bằng chính Ðức Kitô. Họa lại Ðức Kitô cũng có nghĩa là để cho Ðức Kitô uốn nắn, tạc vẽ cho đến khi nào chúng ta đạt được tầm mức của Ngài.

Thứ Năm, 21 tháng 8, 2014

Lời Chúa: thứ Sáu XX Thường Niên Năm A. 22.8.2014

PHÚC ÂM:   Mt 22, 34-40
"Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi, và yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, những người biệt phái nghe tiếng Chúa Giêsu đã làm cho những người Sađốc câm miệng, thì họp nhau lại. Đoạn một người thông luật trong nhóm họ hỏi thử Người rằng: "Thưa Thầy, trong lề luật, giới răn nào trọng nhất?" Chúa Giêsu phán cùng người ấy rằng: "Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là giới răn thứ nhất và trọng nhất. Nhưng giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy, là: Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi. Toàn thể lề luật và sách các tiên tri đều tóm lại trong hai giới răn đó".
Suy niệm“Mến Chúa, yêu người” là hai giới răn quan trọng nhất và là nền tảng của Đạo. Vì vi phạm hai giới răn này mà người Do thái đã bị lưu đày xa quê hương; nhưng cũng chính vì hai giới răn này như thần khí đã giúp họ có cơ hội trở về dựng lại Đền Thờ và quê hương của họ.
Hôm nay thánh Mátthêu trình thuật việc Đức Giêsu và các môn đệ tiến vào thành Gêrusalem. Trên hành trình ấy, Ðức Giêsu đã làm cho nhóm Xađốc phải câm miệng khi họ hỏi Đức Giêsu về chuyện kẻ chết sống lại. Thấy vậy, nhóm Pharisêu vào cuộc, họ họp nhau lại và cử một người đại diện tiến đến để thử Đức Giêsu để tìm cớ tố cáo Ngài, nhà luật sĩ hỏi Ngài: "Trong các điều răn, điều nào trọng nhất?" Đức Giêsu đáp: "Yêu mến Thiên Chúa hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức ngươi". Nhân đây, Đức Giêsu giúp họ nhớ lại một điều luật đã được nhắc đến trong sách Lêvi: "Ngươi phải yêu mến đồng loại ngươi như chính mình"

Tại sao Ngài lại nhắc lại khoản luật đó?

Thưa, bởi vì những người Pharisêu, họ chỉ giữ Luật hình thức bên ngoài, mà bên trong thì hoàn toàn trống rỗng. Họ không yêu thương anh em mình cách thật lòng. Vì thế, chính việc giữ Luật của họ đã phá vỡ đi ý nghĩa, cốt lõi tinh thần của Luật.

Với Đức Giêsu, khi Ngài đến, sứ vụ của Ngài là kiện toàn Lề Luật và làm cho chúng trở nên trong sáng. Đồng thời, Ngài muốn cho các môn đệ, những người sống cùng thời và nhất là giới lãnh đạo... ngày càng sống đúng cốt lõi của Luật hơn. Tinh thần và nội dung của Luật chính là: "Mến Chúa và yêu người". Vì thế, với Đức Giêsu, yêu thương anh em là tuân giữ Lời Ngài. Không yêu thương anh em là không tuân giữ Lời Ngài. Nói mến Chúa mà không yêu anh em là kẻ nói dối. Thật vậy, nên đã có lần Đức Giêsu nói: "Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ của Thầy, đó là các con yêu thương nhau".

Đây không chỉ là lời khuyên, mà còn là một lệnh truyền, một sứ mạng đòi buộc các môn đệ và tất cả chúng ta là những kitô hữu phải thi hành.
Sống Lời Chúa:
+ Sứ điệp Lời Chúa hôm nay nhắc cho chúng ta rằng: mến Chúa và yêu người phải là cốt lõi của Luật. Thiếu một trong hai thì chẳng những không giữ đúng tinh thần của Chúa mà còn có nguy cơ bóp méo Luật của Ngài và mặc cho nó sự bất nhân trong khi thi hành Luật.
+ Những luật sĩ Do Thái rất thuộc luật và giữ rất kỹ, nhưng họ không biết đến cốt lõi của mọi khoản luật là yêu thương. Có thể chúng ta cũng thế: hằng ngày chăm chỉ giữ luật Giáo Hội và luật cộng đoàn, nhưng không có tình mến Chúa và yêu người. Nếu thế thì tất cả đều vô ích.
+ Không có điều gì không thể đối với Thiên Chúa: Nếu Chúa đã phân tán người Do thái làm nô lệ khắp nơi, Ngài cũng có thể tìm cách cho họ trở về. Nếu Chúa đã thổi sinh khí để dựng nên con người, Ngài cũng có thể thổi sinh khí làm con người sống lại.
+ Không có điều gì là không thể đối với con người nếu chúng ta biết giữ cẩn thận hai điều răn quan trọng Chúa truyền hôm nay; vì những gì chúng ta không thể làm được, Chúa sẽ giúp chúng ta làm như Ngài đã giúp tiên tri Ezekiel hôm nay.
+ Có quá nhiều luật lệ làm con người lẫn lộn: không phân biệt được đâu là điều chính, đâu là điều phụ; không biết được điều gì quan trọng, điều gì không quan trọng. Câu trả lời của Chúa Giêsu hôm nay giúp chúng ta nhận thức rõ: “Mến Chúa, yêu người” là hai giới răn quan trọng nhất và là nền tảng của Đạo. Khi có xung đột giữa các chọn lựa trong đời sống, hai giới răn quan trọng này sẽ giúp chúng ta biết lựa chọn làm sao cho đúng thứ tự ưu tiên của cuộc đời.
+ Tình yêu đối với Thiên Chúa phải được tỏ hiện ra dấu hiệu bề ngoài là tình yêu đối với tha nhân. Và chúng ta không chỉ chứng tỏ tình yêu đối với tha nhân không phải chỉ bằng lời nói nhưng còn bằng hành động, bằng sự nhẫn nhịn, tha thứ và cảm thông.
+ “Nếu ai nói tôi yêu mến Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối, vì ai không yêu thương anh em mà họ trông thấy thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn chúng ta đã nhận được từ Ngài: ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu thương anh em mình.” (1Ga 4,20-21)

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cho con mến yêu Luật Chúa và biết thi hành Luật Chúa cách trung thành. Xin cho con luôn biết yêu thương tha nhân, nhất là những người thân trong gia đình.

Lẽ sống:
Trinh Nữ Vương

Hiện nay, tại một số ít quốc gia trên thế giới như Anh Quốc, Hòa Lan, Thụy Ðiển, Thái Lan, chức nữ hoàng và quốc vương vẫn còn tồn tại, nhưng họ chỉ đóng vai trò tượng trưng, chứ không có thực quyền.

Giữa trào lưu có sự thay đổi quan trọng này trong hình thức chính trị và trong đời sống xã hội, những câu kinh: "Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy..." lược dịch bài bình ca bất hủ bằng tiếng La Tinh: "Salve Regina..." vẫn còn được bao cửa miệng và tâm hồn dâng lên Mẹ Maria, diễn tả tấm lòng tôn kính, mến yêu của đoàn con cái đối với mẹ không mảy may bị lạnh nhạt, mặc cho thế sự đổi thay.

Trong tông huấn mang tựa đề: "Lòng sùng kính Ðức Mẹ Maria", Ðức cố Giáo Hoàng Phaolô VI đã định nghĩa về Ðức Maria Trinh Nữ Vương mà Giáo Hội mừng kính hôm nay đại khái như sau: "Lễ này là tiếp diễn lễ Ðức Mẹ Hồn Xác lên trời. Thực vậy, vào lễ Ðức Mẹ Hồn Xác lên trời, chúng ta say đắm và hân hoan mừng kính Mẹ Maria như là hoa quả đầu mùa của công trình cứu rỗi của Chúa Giêsu, đã chiến thắng hai kẻ thù của nhân loại, đó là: tội lỗi và sự chết. Hôm nay, trong lễ Ðức Maria Trinh Nữ Vương, chúng ta chiêm ngắm Ðức Mẹ bên cạnh Vua Cao Cả trời đất, như là Nữ Vương và là người bầu cử cho chúng ta như một người mẹ nhân hiền".
Lời giải thích của Ðức cố Giáo Hoàng Phaolô VI trên đây giúp chúng ta hiểu đúng vai trò của Mẹ Maria theo tinh thần của công đồng Vatican II. Ðó là liên kết vai trò của Ðức Trinh Nữ Maria với Chúa Giêsu và công cuộc cứu rỗi của Ngài.

Theo dòng trào lưu đổi thay của quan niệm về tự do, dân chủ, vai trò Nữ Vương của Mẹ Maria vẫn đứng vững trong tâm trí và con tim của trăm triệu con cái Mẹ, vì Mẹ ngự bên cạnh Chúa Giêsu Vua. Một vị vua dùng thập giá làm ngai vàng, mão gai làm triều thiên và muôn thuở cạnh sườn ngài bị đâm thủng, để nguồn suối của tình yêu Thiên Chúa luôn chảy tràn, giải lao cho nhân loại đang khao khát tình yêu chân thật, làm động lực để biến xã hội loài người thành Nước Trời, với Chúa Giêsu là Vua. Mẹ Maria đứng cạnh ngai vàng thập giá, trái tim bị gươm đâm thâu, để dòng máu tình yêu của Mẹ hòa chảy, hầu đồng lao cộng khổ và đồng thống trị với con Mẹ trong Nước Trời.