Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015

Lời Chúa: CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN NĂM B. 05.07.2015

Phúc Âm : Mc 6,1-6
"Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương".
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
1 Đức Giê-su ra khỏi đó và đến nơi quê quán của Người, có các môn đệ đi theo. 2 Đến ngày sa-bát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói : "Bởi đâu ông ta được như thế ? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao ? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì ? 3 Ông ta không phải là bác thợ, con bà Ma-ri-a, và anh em của các ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn sao ? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao ?" Và họ vấp ngã vì Người. 4 Đức Giê-su bảo họ : "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi." 5Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó ; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ. 6 Người lấy làm lạ vì họ không tin. Rồi Người đi các làng chung quanh mà giảng dạy.

Suy niệm:
Ơn gọi ngôn sứ

Trong khi nhiều người dễ dàng chấp nhận sự dối trá, thỏa hiệp để được lợi lộc danh vọng, thì người Kitô hữu phải cân nhắc kỹ càng để không phạm Luật Chúa và không làm trái với lương tâm. Lịch sử ghi lại rất nhiều tín hữu đã chọn con đường thập giá của Chúa Giêsu để làm chứng cho sự thật. Các thánh tử đạo là những ví dụ điển hình và là gương mẫu cho chúng ta về lòng trung thành với Chúa, noi gương Chúa Giêsu.
Kinh Thánh Cựu ước kể với chúng ta, trong lịch sử Cứu độ, đã có những vị ngôn sứ can đảm phi thường, bất chấp mọi khó khăn nguy hiểm. Họ truyền đạt thánh ý của Chúa cho dân Israen, và cho cả các bậc vua chúa. Lời truyền đạt của họ vừa mang nội dung khích lệ an ủi, nhưng cũng có khi là những lời lên án, trách móc, đe dọa tai ương sắp xảy đến. Bài đọc I nhắc tới Ngôn sứ Êdêkien, một trong bốn ngôn sứ lớn của Cựu ước (Edêkien, Elia, Giêrêmia và Isaia). Êdêkien thi hành sứ mạng trong một bối cảnh chính trị phức tạp của thời lưu đày. Mặc cho những chống đối đe dọa, ông vẫn luôn trung thành với Chúa. Ông không nhằm lấy lòng người đời bằng những lời ngon ngọt, nhưng truyền đạt lời của Chúa một cách can đảm phi thường. 
Cũng như các ngôn sứ nói chung, Êdêkien đã đóng vai trò quan trọng trong việc uốn nắn sửa dạy dân Israen ở một giai đoạn lịch sử, nhờ đó, dân biết sám hối, từ bỏ đường tội lỗi và tuân giữ những thánh chỉ của Chúa. 
Vị ngôn sứ vĩ đại nhất trong lịch sử là Đức Giêsu thành Nagiarét. Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai có sứ mạng cứu nhân độ thế. Lời nói và việc làm của Người đã chứng tỏ quyền năng thiên linh, đồng thời nhằm đem cho con người sự giải thoát. Khi nghe lời Chúa giảng dạy, những người nghe đã thốt lên: “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người" ( Lc 7, 16). Lời Người giảng dạy vừa có uy quyền vừa có sức thu hút lạ kỳ. Hễ người đi đến đâu, dân chúng đi theo rất đông để đón nhận Lời Hằng Sống. Trước uy quyền của Người, những kẻ thù ghét Người cũng phải chùn bước. 
Nếu có nhiều người đón nhận giáo huấn của vị ngôn sứ thành Nagiarét, thì cũng  có những người khước từ và mưu mô chống đối. Đó là trường hợp những người đồng hương của Chúa Giêsu. Thánh Máccô trong Tin Mừng hôm nay kể lại một chuyến về thăm quê của Người. Người thi hành nhiệm vụ ngôn sứ, khi vào Hội đường để đọc và chú giải Sách Thánh. Đây là một sinh hoạt hàng tuần của các cộng đoàn Do Thái. Rất nhiều người ngạc nhiên vì lời giảng dạy của Chúa sâu sắc và khôn ngoan. Tuy vậy, cũng có những người dè bỉu chế nhạo. Khi không bắt bẻ được Người trong lời giảng dạy, họ bàn tán chê bai về gia đình và thân thế của Người. Họ lôi nghề nghiệp thợ mộc của cha Người để soi mói và nhằm giảm uy thế của Người. Họ chỉ đánh giá Người theo cái nhìn ghen tỵ và thành kiến. “Ngôn sứ bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình…”, Chúa Giêsu đã nhắc lại một câu ngạn ngữ thường được sử dụng trong giới bình dân, để chỉ sự cứng lòng của họ. 
Nhờ Bí tích Thanh tẩy, người Kitô hữu được trao ba sứ mạng: Ngôn sứ, Tư tế và Vương đế. Ngôn có nghĩa là lời; Sứ có nghĩa là được sai đi. Ngôn sứ tức là người được sai đi để nói Lời của Chúa. Nhiệm vụ này, không phải lúc nào cũng dễ dàng, vì “Trung ngôn nghịch nhĩ – Lời nói thẳng thì khó nghe”. Để thi hành nhiệm vụ ngôn sứ, có những lúc người tín hữu giống như người bơi ngược dòng. Trong khi nhiều người dễ dàng chấp nhận sự dối trá, thỏa hiệp để được lợi lộc danh vọng, thì người Kitô hữu phải cân nhắc kỹ càng để không phạm Luật Chúa và không làm trái với lương tâm. Lịch sử ghi lại rất nhiều tín hữu đã chọn con đường thập giá của Chúa Giêsu để làm chứng cho sự thật. Các thánh tử đạo là những ví dụ điển hình và là gương mẫu cho chúng ta về lòng trung thành với Chúa, noi gương Chúa Giêsu. 
Qua chức năng ngôn sứ, mỗi chúng ta đều được sai đi để giới thiệu Chúa cho mọi người. Dù ở bậc nào, ai cũng có thể thực hiện được chức năng này, miễn là có thành tâm thiện chí. Được thúc đẩy và soi sáng bởi Đức tin, người được sai đi loan báo Lời Chúa không còn lo sợ. Thánh Phaolô, vị chiến sĩ Đức tin và là Tông đồ dân ngoại, đã cảm nhận được niềm vui khi chịu thử thách trăm chiều. Ngài vui sướng khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ ngặt nghèo vì Đức Kitô. Chính lúc ấy, Ngài lại được thêm sức mạnh thần linh Chúa ban (Bài đọc II).  Không ai chúng ta viện cớ mình kém cỏi để từ chối nhiệm vụ ngôn sứ. Một nụ cười, một lời nói động viên, một cử chỉ thân thiện… dù rất đơn sơ, nhưng nếu được thực hiện với lòng yêu mến, chúng trở nên những món quà ý nghĩa. Món quà quan trọng và ý nghĩa nhất mà chúng ta có thể trao tặng cho mọi người, đó là Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người và đang ở giữa chúng ta.
“Thiên Chúa sai mỗi người đến thế gian với một sứ điệp để loan báo, với một bài ca đặc biệt để hát lên, với một nghĩa cử yêu thương để ban tặng”  (John Powell).

Đức Cha Giuse Vũ Văn Thiên
Giám mục Giáo phận Hải Phòng

Cầu nguyện:
"Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin giúp chúng con can đảm đấu tranh chống lại sự dữ, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an…"

Lẽ sống:
Con người tự do

Ðại thi hào Rabindranath Tagore của Ấn Ðộ có kể câu chuyện ngụ ngôn như sau: Khi còn trẻ, tôi cảm thấy tràn đầy năng lực... Một buổi sáng nọ, tôi ra khỏi nhà và hô lớn: "Tôi sẵn sàng phục vụ bất cứ ai muốn". Thế là tôi hăm hở lên đường và trong tư thế sẵn sàng phục vụ bất cứ ai chờ đợi. Từ đằng xa, đức vua và đoàn tùy tùng tiến đến. Vừa nghe tiếng tôi, ngài đã dừng lại và nói với tôi: "Ta đưa ngươi vào cung hầu hạ ta và bù lại, ta sẽ ban cho ngươi quyền hành". Ngẫm nghĩ, không biết dùng quyền hành để làm gì, tôi đành lặng lẽ bỏ đi...
Tôi tiếp tục ra đi và hô lớn: "Tôi sẵn sàng phục vụ bất cứ ai muốn". Chiều hôm đó, có một cụ già ngỏ ý thuê tôi và để đền bù, cụ cho tôi những đồng bạc mà âm thanh vang lên như bản nhạc. Nhưng tôi cảm thấy không cần tiền bạc, cho nên đành tiếp tục ra đi.
Tôi tiếp tục ra đi và tiến gần đến một căn nhà xinh đẹp. Một em bé gái xinh đẹp chào tôi và đề nghị với tôi: "Tôi thuê anh và bù lại, tôi sẽ tặng cho anh nụ cười của tôi". Tôi cảm thấy do dự. Một nụ cười sẽ kéo dài bao lâu? Chỉ trong chớp nhoáng, cô bé đã biến vào bóng tối...
Khi tôi rời bỏ căn nhà xinh đẹp, thì trời cũng đã tối. Tôi ngả người trên thảm cỏ và ngủ thiếp. Sáng ngày hôm sau, tôi thức giấc trong sự mệt mỏi. Khi mặt trời vừa lên, tôi đi lần ra bãi biển. Một cậu bé đang chơi đùa trên cát. Vừa thấy tôi, nó ngẩng đầu lên, mỉm cười như thể đã từng quen biết với tôi. Một lúc sau, nó nói với tôi: "Tôi sẵn sàng thuê anh và bù lại, tôi không có gì để cho anh cả". Tôi đón nhận ngay giao kèo của cậu bé.
Và chúng tôi bắt đầu chơi đùa với nhau trên bãi cát. Những người qua lại ngỏ ý muốn thuê tôi, nhưng tôi từ chối, bởi vì từ ngày hôm đó, tôi mới thực sự cảm thấy mình là một con người tự do.
Không gì quý bằng độc lập tự do: không chừng câu khẩu hiệu quen thuộc này ứng dụng một cách rất xác thực vào đời sống Ðức Tin của chúng ta... Chúng ta tuyên xưng Chúa Giêsu là Ðấng Cứu Thoát, bởi vì Ngài đến để giải phóng chúng ta, Ngài đến để làm cho chúng ta được tự do. Và tự do mà Ngài mang lại cho chúng ta là gì nếu không phải là tự do khỏi tội lỗi, tự do khỏi đam mê, tự do khỏi ích kỷ, tự do khỏi danh vọng, tiền bạc và tất cả những gì ràng buộc con người...

Lời Chúa: Thứ Bảy sau Chúa nhật XIII Thường Niên 04.07.2015

PHÚC ÂM: Mt 9,14-17
"Làm sao các phù rể có thể buồn rầu khi tân lang còn đang ở với họ".
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mattheu.
14 Bấy giờ, các môn đệ ông Gio-an tiến lại hỏi Đức Giê-su rằng : "Tại sao chúng tôi và các người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay ?" 15 Đức Giê-su trả lời : "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ ? Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay. 16 Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá mới sẽ co lại, khiến áo rách lại càng rách thêm. 17 Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, bầu sẽ bị nứt : rượu chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới : thế là giữ được cả hai."

Suy niệm:
Đời con luôn có Chúa

Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại lời Đức Giêsu dạy về việc phải giữ chay thế nào cho đẹp lòng Chúa: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ?". (Mt 9,15).
Đối với quan niệm của người Do Thái thời Đức Giêsu, ăn chay là một việc làm không thể thiếu trong đời sống của một người được xem là đạo đức. Vì thế nhóm môn đệ của Gioan thắc mắc về việc các môn đệ của Đức Giêsu không ăn chay. Đức Giêsu khẳng định tinh thần vui tươi của bữa tiệc Nước Trời mà Ngài mang tới, trong tư cách Chàng Rể, còn các môn đệ như những thực khách được mời: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ?” Chỉ đến khi Chàng Rể Giêsu chịu khổ nạn, bấy giờ các môn đệ mới cần phải sống trong bầu khí chay tịnh, sám hối.
Hôm nay, vẫn còn nhiều tâm hồn thấy nặng nề bởi những ràng buộc của Luật lệ, những hướng dẫn của Giáo Hội. Nhiều người vẫn không nhận ra được ích lợi từ những chỉ dẫn của Giáo Hội. Nhiều người chỉ giữ luật mà không sống tinh thần của lề luật, tinh thần của Tin mừng.
Chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa, Cha của chúng ta mỗi ngày, và nhất là trước bữa ăn: “Lạy Cha, xin ban cho chúng con lương thực hằng ngày”; và quả thực, ơn huệ lương thực đã có đó ngay trên bàn trước mắt chúng ta rồi.
Vì thế, lời nguyện này về ngôn từ là lời cầu xin, nhưng về tâm tình, là lời tạ ơn và ca tụng. Và bởi vì lương thực hằng ngày là ơn ban, nên sự sống của chúng ta, ở mức độ căn bản nhất là đến từ Chúa và là của Chúa.
Và điều Chúa chờ đợi nơi chúng ta, là một lời nguyện phát xuất từ con tim biết ơn và dâng hiến: “Chúa đã ban cho con tất cả, con xin dâng lại Chúa tất cả”, trong tâm tình ca tụng, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa”, theo khuôn mẫu của Đức Ki-tô Thánh Thể.
Đến với thánh lễ với niềm vui và sự hãnh diện của người được mời dự tiệc: tiệc Lời Chúa và tiệc Mình Chúa. Giữ luật, sống Tin mừng, thi hành luật trong tinh thần của một người biết mình được hướng dẫn đi trên con đường lành.

Sống Lời Chúa:
Làm môn đệ Chúa Giêsu, sống với Chúa Giêsu, thái độ của người theo Chúa phải là sống tất cả cho Ngài và vì Ngài. Ðưa ra dụ ngôn chiếc áo và bình rượu, Chúa Giêsu muốn nói rằng thái độ của người môn đệ phải là thái độ dứt khoát tận căn, một thái độ không pha lẫn Tin Mừng với tinh thần thế tục.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con luôn sống thế nào cho đẹp lòng Chúa, để đời con luôn có Chúa là có hạnh phúc và niềm vui.
   
Lẽ sống:
Củ cà rốt của tôi

Một lão bà nọ qua đời, được các Thiên Thần mang đến tòa phán xét. Trong khi duyệt xét các hành động của bà lúc còn sống, Ðấng phán xét đã không tìm thấy bất cứ một hành động bác ái nào, ngoại trừ có một lần bà đã cho người ăn mày một củ cà rốt. Tuy nhiên, Ðấng phán xét tối cao đầy lòng nhân từ cũng xem hành động ấy có đủ sức để mang người đàn bà lên Thiên Ðàng. Dĩ nhiên, củ cà rốt sẽ được dùng như sợi xích vững để người đàn bà bám vào và leo lên các bậc trong chiếc thang dẫn về Thiên Ðàng.
Người ăn mày cũng chết vào khoảng trong thời gian ấy. Anh cũng được diễm phúc bám vào gấu áo của người đàn bà để được đưa lên Thiên Ðàng.
Một người khác cũng qua đời vào ngày hôm đó. Người này cũng níu lấy chân của người hành khất. Không mấy chốc, chiếc thang bắt đầu từ củ cà rốt mỗi lúc một dài ra đến gần như vô tận: mọi người đều níu kéo nhau để lên Thiên Ðàng. Nhưng từ trên đỉnh thang nhìn xuống, người đàn bà bỗng châu mày khó chịu. Bà thấy sợi dây mỗi lúc một dài, bà sợ nó sẽ căng ra rồi đứt chăng. Cho nên trong cơn bực tức, bà cố gắng dành riêng cho mình củ cà rốt và la lên: "Các người giang ra, đây là củ cà rốt của tôi".
Người đàn bà cố gắng giữ củ cà rốt cho riêng mình cho nên sợi dây tạo nên chiếc thang bắc lên Trời bị đứt. Bà rơi nhào xuống đất và cả đoàn người bám víu vào sợi dây ấy cũng rơi theo.
Một tác giả nào đó đã nói như sau: "Nguyên nhân của tất cả các sự dữ trên trần gian đều bắt đầu từ câu nói điều này thuộc về tôi, điều kia thuộc về tôi".
Khi con người muốn chiếm giữ cho riêng mình là lúc con người cũng muốn chối bỏ và loại trừ người khác. Nhưng càng muốn chiếm giữ cho riêng mình, con người không những chối bỏ người khác mà cũng đánh mất chính bản thân mình. Tình liên đới là điều thiết yếu cho sự thành toàn của bản thân chúng ta. Càng ra khỏi chính mình để sống cho người khác, chúng ta càng gặp lại bản thân, chúng ta càng lớn lên trong tình người. Ðó là nghịch lý mà Chúa Giêsu đã nói với chúng ta: "Ai mất mạng sống mình, người đó sẽ tìm gặp lại bản thân". Hạnh phúc của bản thân chính là làm sao cho người khác được hạnh phúc.
Tuổi già, tính tình cũng đổi khác, muôn nỗi lắng lo trĩu nặng cả thể xác lẫn tâm hồn, rồi thậm chí là muốn được nhớ mà chẳng còn nhớ, muốn bỏ quên lại cứ hiện hữu. Có điều, cái gọi là gắn bó đã chảy lan từ đầu đến chân và từ ngày này qua ngày khác, từ năm này qua năm khác. Một mai, trĩu nặng đôi mắt mờ đục, là mòn mỏi với tấm thân mang sự yếu đuối; nhưng tất cả cho đôi cánh tình yêu, để vút bay thanh thản, để cùng nhau đến trong từng nghĩ suy mộng mị, để Tình Nghĩa Phu Thê thương nhau đến nhường nào. Cuối cùng, tình yêu của hai người dìu nhau đến cuối con đường, đã thấy hạnh phúc thế nào là viên mãn !!!.


Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

Lời Chúa: Thứ Sáu sau Chúa nhật XIII Thường Niên 03.07.2015

THÁNH TOMA TÔNG ĐỒ. Lễ kính
PHÚC ÂM: Ga 20,24-29
"Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!"
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gioan.
24 Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. 25 Các môn đệ khác nói với ông : "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tô-ma đáp : "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." 26 Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : "Bình an cho anh em." 27 Rồi Người bảo ông Tô-ma : "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." 28 Ông Tô-ma thưa Người : "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !" 29 Đức Giê-su bảo : "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin !"

Suy niệm:
Biết nhận ra ơn Chúa bằng đức tin

“Đức tin là tin những gì chúng ta không thấy và phần thưởng của đức tin là thấy những gì chúng ta tin” (Thánh Augustinô).
Tôma không ở với các tông đồ khác khi Đức Giêsu phục sinh hiện ra lần đầu với các ông. Vì thế, sau đó Tôma từ chối không tin Chúa Giêsu sống lại từ kẻ chết.
Nhắc đến Tôma, ta thường nghĩ ngay đến hình ảnh của môt người kém tin, cứng tin. Trước lời chứng của các Tông đồ về việc Đức Giêsu Phục sinh hiện ra với họ, Tôma vẫn cứng tin, đòi kiểm nghiệm thực tiễn bằng chính mắt mình, tay mình. Chính Đức Giêsu Phục sinh lại hiện đến, cách riêng cho Tôma, và sẵn sàng để ông kiểm chứng bằng giác quan của ông.
Như Tôma, nhiều khi tôi trở nên cứng tin trước những mầu nhiệm về Thiên Chúa, muốn tìm kiếm, muốn đụng chạm đến Chúa bằng trí khôn hạn hẹp, đầy giới hạn của con người.
Người Kitô hữu chúng ta phải luôn đi ngược dòng: điều người đời cho là yếu hèn, có lẽ chúng ta cho là mạnh mẽ. Điều người đời cho là dại khờ, có lẽ chúng ta phải cho là khôn ngoan. Thập giá đối với kẻ không tin là dại khờ nhưng đối với những kẻ tin lại là khôn ngoan. Chúa Giêsu đã chẳng nói: “Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20, 29). Người Kitô hữu chúng ta có phúc vì chúng ta không được may mắn như các tông đồ xưa thấy Chúa phục sinh hiện ra, nhưng chỉ nhờ lời chứng của các tông đồ và nhờ Kinh Thánh, huấn quyền, chúng ta tin vào sự phục sinh của Chúa.

Sống Lời Chúa:
Đức tin đòi hỏi sự khiêm tốn và phó thác hoàn toàn vào Thiên chúa. Tin tưởng và phó thác vào bàn tay uy quyền của Chúa, cộng tác với Chúa, chắc chắn phép lạ sẽ xẩy ra.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho con để con luôn vững tin tưởng vào Chúa và sẵn sàng đến với anh chị em bằng đức tin của mình.
   
Lẽ sống:
Vị tiên tri cô độc

Người Ấn Ðộ có kể lại câu chuyện ngụ ngôn sau đây: "Vì tội lỗi của loài người, Thượng đế dọa sẽ trừng trị họ bằng một trận động đất. Ðất sẽ nứt nẻ và nước sẽ rút hết vào trong lòng đất... Một thứ nước độc sẽ tràn ngập mặt đất. Ai uống vào sẽ trở nên bất bình thường. Một vị tiên tri nọ đã không xem thường lời đe dọa của Thượng đế. Ông chuẩn bị đương đầu với biến cố bằng cách từng ngày đem nước lên một ngọn núi cao. Số nước dự trữ đủ cho ông sống đến ngày tàn của cuộc đời...
Ðộng đất đã xảy đến, bao nhiêu sông nước trên mặt đất đều bốc hơi, một thứ nước khác được thay thế vào.
Một tháng sau, vị tiên tri trở lại đất bằng để xem những gì đang xảy ra cho loài người. Ðúng như lời đe dọa của Thượng đế, mọi người sống trên mặt đất đều hóa ra điên dại. Nhưng kỳ lạ thay, loài người không ý thức được tình trạng điên dại của mình. Trái lại, ai cũng muốn ra đường để chế diễu vị tiên tri vì họ cho rằng ông mới là người điên dại... buồn tình, vị tiên tri trở lại chốn núi cao của mình. Ông sung sướng vì nước dự trữ vẫn còn và ông vẫn là người duy nhất còn có một tâm trí lành mạnh, bình thường...
Nhưng ngày qua ngày, ông cảm thấy không chịu nổi sự cô đơn của mình. Ông khao khát được sống một cách bình thường với những người đồng loại. Thế là một lần nữa, ông trở lại đồng bằng. Và một lần nữa, ông lại bị dân chúng ruồng rẫy, vì họ cho rằng ông không còn giống họ nữa.
Không còn chịu được sự hắt hủi của những người đồng loại, vị tiên tri đã đổ hết số nước dự trữ của mình và ông uống lấy nước mới của người đồng loại để cũng trở nên điên dại như họ..."
Con đường dẫn đến chân lý không phải là con đường rộng thênh thang. Người đi tìm chân lý thường là người cô độc...
Hôm nay chúng ta kính nhớ thánh tông đồ Toma. Ai cũng biết lời bất hủ của Toma khi tuyên bố về sự sống lại của Chúa: Nếu tôi không xỏ tay tôi vào lỗ đinh và cạnh sườn Ngài, tôi không tin... Theo phương pháp khoa học, nhiều người đã lấy câu nói của Toma làm châm ngôn cho việc đi tìm chân lý. Nghĩa là, nếu tôi không kiểm chứng được, nếu tôi không sờ mó được, tôi không chấp nhận điều đó là đúng... Thái độ đó chưa hẳn là thái độ thực tiễn trong cuộc sống. Giá trị cao cả nhất trong cuộc sống: đó là sự tin tưởng, tín nhiệm đối với người khác. Ðau yếu, chúng ta đi mua thuốc, chúng ta buộc phải tin tưởng ở người bán thuốc. Lạc đường, chúng ta buộc phải tin tưởng ở lòng thành thật của người chỉ lối... Thái độ đó càng đúng hơn trong lĩnh vực Ðức Tin... 
Chúng ta tin vào sự sống lại của Chúa Giêsu không phải vì chúng ta đã thấy Người hiện ra, nhưng chỉ vì lời chứng của các tông đồ, của các tiền nhân... Một thái độ như thế đòi hỏi rất nhiều phấn đấu của lý trí. Lắm khi, chúng ta chỉ là một thiểu số cô độc. Chúng ta dễ dàng rơi vào nỗi cô độc của những người đang đi tìm chân lý. Người Kitô thường phải đi ngược dòng. Ðiều người đời cho là bất bình thường, có lẽ phải là cái bình thường đối với người Kitô. Ðiều người đời cho là yếu nhược, có khi phải là sức mạnh của người Kitô. Ðiều người đời cho là điên dại, có khi phải là lẽ khôn ngoan của người Kitô.

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Lời Chúa: Thứ Năm sau Chúa nhật XIII Thường Niên 02.07.2015

PHÚC ÂM: Mt 9,1-8
"Họ tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người quyền năng như thế".
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
1 Đức Giê-su xuống thuyền, băng qua hồ, trở về thành của mình. 2 Người ta liền khiêng đến cho Người một kẻ bại liệt nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giê-su bảo người bại liệt : "Này con, cứ yên tâm, con đã được tha tội rồi !" 3 Có mấy kinh sư nghĩ bụng rằng : "Ông này nói phạm thượng." 4 Nhưng Đức Giê-su biết ý nghĩ của họ, liền nói : "Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy ? 5 Trong hai điều : một là bảo : "Con đã được tha tội rồi", hai là bảo : "Đứng dậy mà đi", điều nào dễ hơn ? 6 Vậy, để các ông biết : ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội - bấy giờ Đức Giê-su bảo người bại liệt : "Đứng dậy, vác giường đi về nhà !" 7 Người bại liệt đứng dậy, đi về nhà. 8 Thấy vậy, dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế.

Suy niệm:
Thấy họ có lòng tin

Với lòng tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, Abraham đã vâng lời trong mọi sự, dù phải trả giá bằng việc sát tế đứa con một yêu dấu của mình. Vâng lệnh Đức Chúa, Abraham lên đường, sát tế Isaac làm của lễ toàn thiêu. Và chính Thiên Chúa đã nhìn thấy lòng tin vẹn tuyền của Abraham. Ngài hứa giáng phúc cho ông và dòng dõi ông.
Cũng với lòng tin vào quyền năng và lòng thương xót của Chúa, trong bài Tin mừng, anh bại liệt và cả nhóm người khiêng anh đã tìm cách đưa anh đến với Chúa Giêsu. Họ tin rằng khi gặp được Chúa, thì lời quyền năng hay hành động quyền năng của Ngài sẽ làm cho anh bại liệt được khỏi. Và Ngài đã chữa khỏi cho anh bại liệt bởi “thấy họ có lòng tin”.
Khi tôi đến gặp gỡ Chúa qua thánh lễ, khi tôi tiếp xúc với Chúa trong nguyện cầu, thì Lời quyền năng và hành động quyền năng của Ngài qua các bí tích, sẽ cứu chữa, sẽ giải phóng tôi khỏi những tật nguyền trong tâm hồn. Tha thiết đến với Lời của Chúa, lời có sức mạnh giải phóng khỏi những tối tăm, lầm lạc. Trung thành với các bí tích, qua đó, hành động cứu độ của Chúa sẽ được thực hiện.

Sống Lời Chúa:
Chúa Kitô đã thiết lập Hội Thánh, trao cho Hội Thánh quyền cầm buộc cũng như tháo cởi dưới đất. Quyền năng này không do Hội Thánh mà là Chúa Kitô hành động qua Hội Thánh. Nhưng Hội Thánh cũng bao gồm những con người, vẫn còn đó những yếu đuối và lầm lỗi. Vì thế, nhiều người tỏ ra nghi ngờ ‘quyền năng’ của Hội Thánh trong việc cử hành các bí tích. Liệu tôi có thuộc vào số những kẻ ‘phạm thượng’ đó không?

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin giúp con ra khỏi những thành kiến và mặc cảm, thù oán và ghen tương, biết khiêm tốn nhìn nhận sự bại liệt của mình, và chấp nhận để người khác đưa mình đến gặp Chúa.
   
Lẽ sống:
Ðấng Cứu Thế đang có mặt

Ngày kia, có một đan viện phụ Công giáo tìm đến một vị tu sĩ Ấn Giáo tại chân núi Himalaya. Với tất cả ưu tư phiền muộn, vị đan viện phụ trình bày về tình trạng bi đát của tu viện do ông điều khiển. Trước kia, tu viện này là một trong những trung tâm Công giáo thu hút không biết bao nhiêu khách hành hương. Nhà nguyện lúc nào cũng vang lên tiếng ca hát của các tu sĩ và giáo dân đến từ khắp nơi. Các căn phòng lúc nào cũng có người ở... Nay tu viện gần như trở thành một ngôi chùa trống vắng. Làn sóng những người trẻ tìm đến tu viện hầu như tắt lịm. Nhà nguyện vắng kẻ ra người vào. Một số nhỏ tu sĩ còn lại sống trong uể oải buông thả... Vị viện phụ muốn hỏi nhà tu sĩ Ấn Giáo: đâu là nguyên nhân đã đưa đến tình trạng này? Phải chăng vì một tội lỗi tày đình nào đó mà bàn tay Chúa đã đè nặng trên cộng đoàn?
Sau khi nghe đức viện phụ kể lể, vị tu sĩ Ấn Giáo mới ôn tồn nói: "Cái tội đã và đang xảy ra trong cộng đoàn: đó là tội vô tình". Vị tu sĩ Ấn Giáo mới giải thích như sau: "Ðấng Cứu Thế đã cải trang thành một người giữa chư vị, nhưng chư vị đã vô tình không nhận ra Ngài".
Nhận được lời giải thích của vị tu sĩ Ấn Giáo, đức viện phụ mới hối hả trở về tu viện, trong lòng ông không khỏi miên man đặt câu hỏi: "Ai là người được Ðấng Cứu Thế đang mượn hình dáng để trở lại với loài người?". Cả tu viện chỉ có tất cả không đầy mười người. Ðấng Cứu Thế không thể là chính ông, vì ông tự biết mình là một con người tội lỗi yếu hèn. Nhưng ông cũng biết rõ các tu sĩ khác trong tu viện: có người nào toàn vẹn để Ðấng Cứu Thế mượn lấy hình dáng? Thế nhưng, ông vẫn tin theo lời của vị tu sĩ Ấn Giáo để xác quyết rằng Ðấng Cứu Thế đang cải trang thành một người nào đó trong cộng đoàn...
Với niềm xác tín ấy, ông quy tu tất cả các tu sĩ lại và loan báo cho mọi người biết rằng Ðấng Cứu Thế đang cải trang thành một người trong nhà. Ðôi mắt của mỗi người mở to ra và ai cũng bắt đầu dò xét từng người trong nhà. Chỉ có điều chắc chắn là: bởi vì Ðấng Cứu Thế đã cải trang, cho nên, không ai có thể nhận ra Ngài được. Thành ra mỗi người trong nhà đều có thể là Ðấng Cứu Thế... Từ đó, ai ai cũng đối xử với nhau như đối xử với chính Ðấng Cứu Thế. Không mấy chốc, bầu khí yêu thương, huynh đệ, sức sống và niềm vui đã trở lại với tu viện. Sự thánh thiện ấy không mấy chốc được đồn thổi đi khắp nơi. Các tín hữu từ khắp nơi trở lại tu viện để tĩnh tâm và cầu nguyện. Nhiều ngưởi trẻ cũng đến gõ cửa Nhà Dòng...
Nếu người người, ai ai cũng nhìn nhau và đối xử với nhau như đối xử với chính Chúa Giêsu, thì có lẽ hận thù, chiến tranh sẽ không bao giờ có lý do để tồn tại trên mặt đất này. Sự vắng bóng của Thiên Chúa trong xã hội, hay đúng hơn sự vô tình của con người để không nhận ra Thiên Chúa trong cuộc sống: đó là đầu mối của mọi thứ bất hòa, chiến tranh, xáo trộn trong xã hội.
Chối bỏ Thiên Chúa cũng có nghĩa là chối bỏ con người. Sự băng hoại của những xã hội xây dựng trên chủ thuyết vô thần là một bằng chứng hùng hồn về hậu quả của sự chối bỏ Thiên Chúa. Khi con người chối bỏ Thiên Chúa, con người cũng trà đạp con người...
Con người là hình ảnh cao quý của Thiên Chúa đến độ Ngài đã trở thành con người và tự đồng hóa với con người. Từ nay, con người chỉ có thể nhận ra Ngài trong mỗi người anh em của mình mà thôi. Thánh thiện hay tội lỗi, giàu sang hay nghèo hèn, bạn hữu hay thù địch: mỗi một con người đều là hình ảnh của Thiên Chúa và chỉ có xuyên qua tình yêu đối với con người, con người mới có thể đến với Thiên Chúa.

Lời Chúa: Thứ Tư sau Chúa nhật XIII Thường Niên 01.07.2015

PHÚC ÂM: Mt 8,28-34
"Ông đến lúc này để hành hạ các quỷ".
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
28 Khi Đức Giê-su sang bờ bên kia, và đến miền Ga-đa-ra, thì có hai người bị quỷ ám từ trong đám mồ mả ra đón Người ; chúng rất dữ tợn, đến nỗi không ai dám qua lại lối ấy. 29 Chúng la lên rằng : "Hỡi Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông ? Chưa tới lúc mà ông đã đến đây làm khổ chúng tôi sao ?" 30 Khi ấy, ở đàng xa, có một bầy heo rất đông đang ăn. 31 Bọn quỷ nài xin Người rằng : "Nếu ông đuổi chúng tôi, thì xin sai chúng tôi nhập vào bầy heo kia." 32 Người bảo : "Đi đi !" Chúng liền ra khỏi hai người đó và nhập vào bầy heo. Thế là tất cả bầy heo từ trên sườn núi lao xuống biển và chết đuối hết. 33 Các người chăn heo chạy trốn vào thành, kể lại mọi sự, và những gì đã xảy ra cho những người bị quỷ ám. 34 Bấy giờ, cả thành ra đón Đức Giê-su, và khi gặp Người, họ xin Người rời khỏi vùng đất của họ.

Suy niệm:
Khỏi sự dữ

Cũng tiếp nối chủ đề Lời Chúa ngày hôm qua, Lời Chúa ngày hôm nay vẫn tiếp tục soi sáng, nhắc nhở cho ta về quyền năng của Thiên Chúa trước sự dữ. Trong bài đọc I, quyền năng của Chúa đã dẫn dắt, đã che chở mẹ con bà Haga khỏi sự mưu hại của người đời. Trong bài Tin mừng, quyền năng của Đức Giêsu đã làm cho ma quỷ, làm cho sự dữ phải sợ hãi, phải khuất phục trước Ngài.
Hôm nay, sự dữ, tội lỗi tràn lan vào mọi ngõ ngách của cuộc sống. Biết bao nhiêu cuộc tàn sát, tước đoạt mạng sống, chà đạp danh dự, lừa gạt, bôi nhọ nhân phẩm xảy ra hàng ngày, nhiều khi ngay cả trong gia đình những Kitô hữu. Con người trở nên mất lòng tin nơi nhau. Lòng dạ con người trở nên chai đá trước những đau khổ của tha nhân. Mong sao, tôi đứng về phía Chúa để chiến đấu cho sự thiện. Lời Chúa và Luật Chúa sẽ là vũ khí hữu hiệu, giúp tôi chiến thắng khi đương đầu trước thế lực của sự tội, sự ác.

Sống Lời Chúa:
Tôi xác tín cùng với thánh giáo hoàng Gio-an Phao-lô II: "Sự hiện diện của quỷ ngày càng ghê gớm hơn khi con người và xã hội quay lưng với Thiên Chúa" (tháng 08/1986). Tôi cũng sẽ nỗ lực thờ phượng Chúa cách nhiệt thành, sốt sắng hơn.

Cầu nguyện:
Lạy Cha, xin dẫn dắt chúng con trong cơn cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.
   
Lẽ sống:
Một cách trả thù

Những người thổ dân Nam Phi thường đề cao sự tha thứ bằng câu chuyện sau đây: Có hai người thổ dân rất thù ghét nhau. Một ngày kia, một trong hai người gặp cô gái nhỏ của kẻ thù mình trong rừng. Hắn đã bắt lấy cô gái và chặt đứt hai hai ngón tay của cô bé. Cô bé vừa chạy về vừa khóc lóc đau đớn, còn tên hung thủ thì vừa đi vừa đắc trí hô lớn: "Ta đã trả thù được rồi".
Mười mấy năm sau, cô bé đáng thương ấy đã lớn lên rồi có gia đình. Một hôm, có một người ăn xin đến gõ cửa nhà cô. Cô nhận ra tức khắc người hành khất chính là kẻ đã chặt tay cô cách đây mười mấy năm. Không một chút oán hờn, không một lời trả đũa, cô vội vàng vào nhà và mang thức ăn ra hầu hạ cho kẻ đã từng hành hạ mình. Khi người hành khất đã ăn no rồi, người đàn bà liền đưa bàn tay cụt mất hai ngón cho ông ta xem và nói: "Tôi cũng đã trả được thù rồi".
"Lấy ân trả oán": đó phải là phương châm hành động của người Kitô chúng ta. Không có cách trả thù nào cao quý hơn bằng yêu thương, tha thứ cho chính kẻ thù. Nói như thánh Phaolô, chúng ta không mắc nợ với nhau điều gì ngoài tình thương mến.
Chỉ có tình thương, chỉ có lòng tha thứ mới có thể tiêu diệt được hận thù. Lấy hận thù để tiêu diệt hận thù, lấy bạo động để tiêu diệt bạo động: con người chỉ đổ thêm dầu vào hận thù và bạo động mà thôi.
Cuộc cách mạng bạo động và đẫm máu nào cũng chỉ mang lại tang thương, chết chóc và không biết bao nhiêu hệ lụy khổ đau khác.
Chỉ có một cuộc cách mạng duy nhất có thể cứu vãn được nhân loại: đó là cuộc cách mạng mà Chúa Giêsu đã đề ra. Chỉ có cuộc cách mạng tình thương ấy mới có thể được tiêu diệt được hận thù. Ðó là cuộc cách mạng mà người Kitô chúng ta cần theo đuổi mỗi ngày. Thay vì tiêu diệt kẻ thù, chúng ta hãy tiêu diệt chính sự hận thù trong tâm hồn chúng ta.