Thứ Tư, 4 tháng 2, 2015

Lời Chúa: Thứ Bảy sau Chúa nhật IV Thường Niên năm B. 07.02.2015

Thánh Co-lê-ta, trinh nữ, dòng II - lễ nhớ
PHÚC ÂM:   Mc 6,30-34
“Họ như bầy chiên không người chăn dắt.”
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
30 Khi ấy, các Tông Đồ tụ họp chung quanh Đức Giê-su, và kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm, và mọi điều các ông đã dạy. 31 Người bảo các ông : “Anh em hãy lánh riêng ra, đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Quả thế, kẻ lui người tới quá đông, nên các ông cũng chẳng có thì giờ ăn uống nữa. 32 Vậy, thầy trò xuống thuyền đi lánh riêng ra một nơi hoang vắng. 33 Thấy các ngài ra đi, nhiều người hiểu ý, nên từ khắp các thành, họ cùng nhau theo đường bộ chạy đến nơi, trước cả các ngài. 34 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.

Suy niệm:
Cơ thể con người cần theo một nhịp điệu cố định: lao động miệt mài rồi nghỉ ngơi, thư giãn. Mải mê làm việc mà không nghỉ ngơi sẽ sớm bị kiệt sức: đã có những người Nhật gục chết trên bàn giấy vì làm việc quá độ. Trái lại, chỉ biết thư giãn, rong chơi mà không làm việc sẽ khiến cơ thể mệt mỏi, đời mình trở nên vô nghĩa. Trong đời sống thiêng liêng, người môn đệ Chúa Ki-tô cũng có một nhịp điệu nền tảng: ở với Chúa va được sai đi, rồi về lại bên Chúa và nghỉ ngơi. Nhịp điệu ấy được chính Thầy Giêsu truyền lại cho các môn đệ khi các ông qui tụ quanh Ngài để tường trình chuyến thực tập truyền giáo thành công. Đó cũng là một nhịp điệu theo vòng tròn đồng tâm, vì trung tâm và động lực của mọi sinh hoạt đời sống Ki-tô hữu là Đức Ki-tô.
Trước hết chúng ta luôn ý thức, Đức Giêsu Kitô là trung gian tuyệt vời để dẫn đưa chúng ta đến với Thiên Chúa Cha. Vì vậy, việc thờ phượng và ngợi khen Thiên Chúa phải qua trung gian Đức Kitô như tác giả bài đọc một diễn tả: ‘Vậy nhờ Người, chúng ta hãy luôn luôn dùng lời ngợi khen làm lễ tế dâng lên Thiên Chúa, tức là dùng miệng lưỡi mà ca tụng Danh Thánh’ (Dt 13,15). Việc thờ phượng cần biểu lộ qua đời sống cầu nguyện và phụng vụ của cộng đoàn cũng như cá nhân.
Ngoài ra, chủ chăn giúp con người có cơ hội đến với Thiên Chúa qua việc bác ái: ‘Anh em chớ quên làm việc từ thiện, giúp đỡ lẫn nhau, vì Thiên Chúa ưa thích những hy lễ như thế’ (Dt 13,16). Để mọi người có thể đến gần Thiên Chúa, các tín hữu biết vâng lời chủ chiên dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần: ‘Anh em hãy vâng lời những người lãnh đạo anh em và hãy phục tùng họ, vì họ chăm sóc linh hồn anh em như những người sẽ phải trả lẽ với Thiên Chúa’ (Dt 13,17).
Tiếp đến chúng ta phải thi hành thánh ý Thiên Chúa qua lời của Ngài, qua các Tiên tri và giáo huấn của Giáo Hội. Tại sao phải thi hành thánh ý Ngài? Bởi vì, đây là con đường dẫn đưa chúng ta đến với hạnh phúc thật. Đức Kitô là người thi hành thánh ý Thiên Chúa Cha trong mọi sự, kể cả cái chết để đưa chúng ta đến cuộc sống muôn đời: ‘Thiên Chúa là nguồn mạch bình an đã đưa Đức Giêsu, Chúa chúng ta ra khỏi cái chết. Đức Giêsu là vị Mục tử cao cả của đoàn chiên, là Đấng đã đổ máu mình ra để thiết lập giao ước vĩnh cửu’ (Dt 13,21).

Sống Lời Chúa:                                 
Cuối một ngày, cuối một tháng, ngày cuối năm là cơ hội thuận tiện tôi dành ít thời gian nhìn lại, lượng giá hoạt động của mình và rút kinh nghiệm cho thời gian sắp đến.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cho con tìm về lại bên Chúa những lúc vui hay buồn, thành công hay thất bại, và kín múc từ nơi Chúa nguồn sức mạnh giúp con bước tiếp hành trình sứ mạng.

Lẽ sống:
Một lý tưởng để đeo đuổi

Một buổi sáng năm 1888, Alfred Nobel, người phát minh ra chất nổ và từ đó, hái ra tiền như nước, đã thức giấc trong bàng hoàng sửng sốt: tất cả báo chí trong ngày đều nói đến cái chết của Alfred Nobel, vua chất nổ. Thật ra, đây chỉ là một lầm lẫn của một ký giả nào đó. Người anh của Alfred qua đời và ký giả đó tưởng lầm là chính Alfred. Nhưng dù sao, đây cũng là dịp để Alfred đọc được cảm nghĩ mà người khác đang có về ông. Trên môi miệng của mọi người, ông chỉ là ông vua của chất nổ, nghĩa là người làm giàu trên cái chết của không biết bao nhiêu sinh mạng do chất nổ gây ra. Người ta không hề nhắc đến những nỗ lực của ông nhằm phá vỡ những hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc và các ý thức hệ. Không ai nhắc đến những cố gắng kiến tạo hòa bình của ông. Alfred Nobel buồn vô cùng về hình ảnh của một nhà "kinh doanh trên sự chết chóc" mà thiên hạ đang có về mình.
Ông quyết định làm cho thế giới hiểu được lẽ sống đích thực của ông. Với quyết tâm ấy, ông ngồi xuống bàn làm việc viết ngay tức khắc chúc thư trong đó ông để lại tất cả tài sản của ông để thiết lập một trong những giải thưởng lớn nhất thế giới: đó là giải thưởng Nobel Hòa Bình, nhằm tưởng thưởng tất cả những ai góp phần vào việc xây dựng Hòa Bình thế giới.
Ngày nay, biệt hiệu của Alfred Nobel không còn là vua của chất nổ nữa, mà là Hòa Bình.
Có một lý tưởng để đeo đuổi, có một lẽ sống cho cuộc đời: đó là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của con người trên trần gian. Những người bất hạnh nhất phải chăng không là những người sống mà không biết tại sao mình sống, sống để làm gì và sẽ đi về đâu sau cái chết. Bất hạnh hơn nữa đó là những con người chỉ xây dựng cuộc sống của mình trên những sự chết chóc của người khác. thế giới sẽ không bao giờ quên những Tần Thủy Hoàng, những Nero, những Hitler, những Stalin, những Ceaucescu và không biết bao nhiêu những con người ngày nay có kẻ đang thờ trong lăng tẩm để rồi mai ngày kẻ khác lại khai quật lên.
Người Kitô hữu là người có lý tưởng để xây dựng, có lẽ sống để đeo đuổi. Họ luôn luôn sẵn sàng để bày tỏ cho người khác những lý lẽ của niềm tin và hy vọng của họ. Sự bày tỏ ấy, họ không viết trong một chúc thư bằng giấy mực, mà bằng cả cuộc sống chứng tá của họ.
Khi nói về sự rao giảng Tin Mừng, Ðức cố Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói như sau: "Tin Mừng trước tiên phải được công bố bằng một chứng từ. Có chứng từ khi một người Kitô hay một nhóm người Kitô sống giữa nhân loại, bày tỏ được khả năng có thể cảm thông, đón tiếp, chia sẻ cuộc sống với người khác hoặc tỏ tình liên đới với người khác trong mọi cố gắng đối với những gì là cao quí và thiện hảo. Có chứng từ khi những người Kitô chiếu rọi một cách đơn sơ và bộc phát niềm tin của họ vào những giá trị vượt lên trên những giá trị thông thường và bày tỏ niềm hy vọng của họ vào một cái gì mà người ta không thấy hoặc không dám mơ ước. Với chứng từ không lời ấy, người Kitô làm dấy lên trong tâm hồn của những ai đang thấy họ sống, những câu hỏi mà con người không thể né tránh được. Ðó là: Tại sao họ sống như thế? Ðiều gì hoặc ai là người thúc đẩy họ sống như thế? Tại sao họ sống như thế giữa chúng ta?".
Ðâu là chúc thư chúng ta muốn để lại cho hậu thế? Ðâu là lời biện minh của chúng ta trước mặt người đời nếu không phải là một cuộc sống chứng từ cho Nước Trời.

Lời Chúa: Thứ Sáu sau Chúa nhật IV Thường Niên năm B. 06.02.2015

Thánh Phao-lô Mi-ki và các bạn, tử đạo - Các thánh Phê-rô Bao-ti-xi-ta,
Phao-lô Mi-ki và các bạn tử đạo, Dòng I và III - lễ nhớ
PHÚC ÂM:   Mc 6,14-29
“Ông Gio-an, ta đã cho chém đầu, chính ông đã trỗi dậy.”
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
14 Khi ấy, vua Hê-rô-đê nghe biết về Đức Giê-su, vì Người đã nổi danh. Có kẻ nói : “Đó là ông Gio-an Tẩy Giả từ cõi chết trỗi dậy, nên mới có quyền năng làm phép lạ.” 15 Kẻ khác nói : “Đó là ông Ê-li-a.” Kẻ khác nữa lại nói : “Đó là một ngôn sứ như một trong các ngôn sứ.” 16 Vua Hê-rô-đê nghe thế, liền nói : “Ông Gio-an, ta đã cho chém đầu, chính ông đã trỗi dậy !”
17 Số là vua Hê-rô-đê đã sai người đi bắt ông Gio-an và xiềng ông trong ngục. Lý do là vì vua đã lấy bà Hê-rô-đi-a, vợ của người anh là Phi-líp-phê, 18 mà ông Gio-an lại bảo : “Ngài không được phép lấy vợ của anh ngài !” 19 Bà Hê-rô-đi-a căm thù ông Gio-an và muốn giết ông, nhưng không được. 20 Thật vậy, vua Hê-rô-đê biết ông Gio-an là người công chính thánh thiện, nên sợ ông, và còn che chở ông. Nghe ông nói, nhà vua rất phân vân, nhưng lại cứ thích nghe.
21 Một ngày thuận lợi đến : nhân dịp mừng sinh nhật của mình, vua Hê-rô-đê mở tiệc thết đãi bá quan văn võ và các thân hào miền Ga-li-lê. 22 Con gái bà Hê-rô-đi-a vào biểu diễn một điệu vũ, làm cho nhà vua và khách dự tiệc vui thích. Nhà vua nói với cô gái : “Con muốn gì thì cứ xin, ta sẽ ban cho con.” 23 Vua lại còn thề : “Con xin gì, ta cũng cho, dù một nửa nước của ta cũng được.” 24 Cô gái đi ra hỏi mẹ : “Con nên xin gì đây ?” Mẹ cô nói : “Đầu Gio-an Tẩy Giả.” 25 Lập tức cô vội trở vào đến bên nhà vua và xin rằng : “Con muốn ngài ban ngay cho con cái đầu ông Gio-an Tẩy Giả, đặt trên mâm.” 26 Nhà vua buồn lắm, nhưng vì đã trót thề, lại thề trước khách dự tiệc, nên không muốn thất hứa với cô. 27 Lập tức, vua sai thị vệ đi và truyền mang đầu ông Gio-an tới. Thị vệ ra đi, chặt đầu ông ở trong ngục, 28 bưng đầu ông trên một cái mâm trao cho cô gái, và cô gái trao cho mẹ. 29 Nghe tin ấy, môn đệ đến lấy thi hài ông và đặt trong một ngôi mộ.
Suy niệm:
Chúa Giêsu bị bắt và đến gặp tổng trấn Philatô để ông quyết định số phận của Chúa Giêsu. Trong lúc chất vấn với nhau, Philatô hỏi Chúa Giêsu sự thật hay chân lý là cái gì? (Ga 18,38). Chúa đáp lại bằng sự im lặng!. Sự thật hay chân lý chính là con người của Chúa Giêsu. Thật vậy, chính con người của Ngài là chân lý và là sự thật, bởi vì lời nói việc làm của Ngài là sự thật và nhất là làm chứng cho Sự Thật – Thiên Chúa Cha.
Tác giả Thư Do Thái đã minh chứng sự thật về Chúa Giêsu: ‘Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời’ (Dt 13,8). Sau khi đã chứng minh Chúa Giêsu là vị trung gian của Giao Ước mới đem ơn cứu độ cho con người và khuyên chúng ta làm những việc sau đây: Trước hết là bác ái huynh đệ. Tại sao phải làm như thế? Bởi vì bản chất của đạo Công giáo là mến Chúa yêu người như chính Chúa Giêsu đã nói: ‘Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ của Thầy là hãy yêu thương nhau’ (Ga 13,35). Thư Do Thái khuyên chúng ta: ‘Anh em hãy giữ tình huynh đệ’ (Dt 13,1). Tiếp đến là chúng ta cần phải có tinh thần hiếu khách.
Tại sao? Bởi vì khách ở đây không chỉ là khách của chúng ta nhưng là người được Chúa sai đến là các thiên thần (Tb 3,17). Ngoài ra, chúng ta phải trung thành tin tưởng vào Thiên Chúa, đừng quá tham lam bởi vì chúng ta không thể làm tôi hai chủ ‘Thiên Chúa hay tiền tài’ (Mt 6,24). Hơn nữa, chúng ta tin vào sự quan phòng của Chúa vì Thiên Chúa yêu thương và chăm sóc cho chúng ta: ‘Ta sẽ không bỏ rơi ngươi, Ta sẽ không ruồng bỏ ngươi’ ( Dt 13,5). Hãy tin tưởng vào Chúa như tác giả bài đọc một chia sẻ: ‘Có Chúa ở cùng tôi mà bênh đỡ, tôi chẳng sợ gì. Hỏi người đời làm chi tôi được’ (Dt 13,6). Hình ảnh trung thành và tin tưởng vào Chúa cụ thể qua bài Tin Mừng chính là Gioan Tẩy Giả. Ông làm chứng cho sự thật và dám nói lên sự thật dù sẵn sàng bị chém đầu.

Sống Lời Chúa:                                 
Bạn và tôi được mời gọi để sống cho sự thật. Khi bưng bít sự thật, khi không dám làm chứng cho sự thật, chúng ta bị sự thật “quấy nhiễu”: chúng ta bị “cắn rứt lương tâm”. Trái lại dám chấp nhận trả giá khi sống theo sự thật, thì dù sống hay chết, lòng chúng ta sẽ luôn thanh thản, bởi vì “sự thật sẽ giải thoát anh em” (Ga. 8,23). 
Bạn có nghe nói điều này: “Bạn có thể lừa dối tất cả mọi người một ít lâu, và lừa dối một ít người mãi mãi, nhưng bạn không thể mãi mãi lừa dối tất cả mọi người”? Bạn có suy nghĩ gì về lời đó?
Thực hành phương châm: “Nói sự thật trong lòng bác ái” (x. Ep 4,5) cũng là chủ đề tông huấn của đức Bê-nê-đi-tô XVI “Veritas in caritate” (Sự thật trong lòng mến).

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, thắng hay thua rồi ai cũng chết. Giàu có hay nghèo khổ rồi cũng sẽ qua đi. Chỉ có tình yêu và sự thật để lại đời. Chúa Giêsu và Thánh Gioan Tiền Hô để lại mẫu gương anh dũng, mẫu gương giúp cho đời đạt được hạnh phúc và bình an. Ngược lại, vua Hêrôđê và bà Hêrôđia cũng để lại sự thật cho đời là dối trá dẫn đến chết chóc và tội lỗi. Xin cho mỗi người chúng con biết theo gương Chúa và các Thánh biết tìm kiếm chân lý sự thật trong cuộc sống hầu được hưởng bình an và hạnh phúc với Chúa muôn đời.

Lẽ sống:
Hướng về Nagasaki

Nagasaki là một thành phố đã bị trái bom hạt nhân thứ hai tiêu hủy cùng với hàng trăm ngàn sinh linh vào năm1945. Khoảng 350 năm trước đó, vào tháng 2 năm 1597, 26 vị tử đạo đã bị treo vào thập tự trên một ngọn đồi quay mặt hướng về thành phố Nagasaki. Họ là những linh mục truyền giáo, tu sĩ, giáo dân. Họ là những người thuộc dòng Thánh Phanxico, dòng Tên và thành viên của dòng 3 Phanxico. Họ thuộc loại giai cấp xã hội: là những giáo lý viên, nông dân, y sĩ, những người giúp việc và ở mọi lứa tuổi, nhưng tất cả 26 vị được kết hợp trong cùng với một đức tin và một tình yêu Thiên Chúa và Giáo Hội.
Khi các nhà truyền giáo trở lại Nhật vào những năm 1860, họ ngỡ là sẽ không tìm thấy một dấu vết nào của Thiên Chúa Giáo nữa. Nhưng sau khi đã thiết lập được vài cộng đoàn bé nhỏ, các Ngài ngạc nhiên khám phá ra hàng ngàn tín hữu sinh sống quanh thành phố Nagasaki vẫn âm thầm, lén lút giữ vững Ðức Tin mà 26 vị tử đạo đã anh dũng tuyên xưng.
Vào năm 1617, 26 vị này được phong á thánh và cuối cùng được tôn phong hiển thánh vào năm 1862.
"Bản án tử hình của chúng tôi có để lại: những người bị hành quyết này đã đến từ Phi Luật Tân. Nhưng tôi, tôi không đến từ Phi Luật Tân. Tôi là người Nhật chính tông. Lý do tôi bị xử án là vì tôi đã rao giảng đức tin Kitô và thật đúng như vậy, tôi đã rao giảng Tin Mừng này. Tôi cảm tạ Chúa vì tôi được chết vì rao truyền danh Ngài.
Tôi tin tưởng là tôi đã rao giảng sự thật và muốn nói với các bạn những lời cuối cùng này: Hãy cầu xin ơn Thiên Chúa giúp các bạn được hạnh phúc. Tôi vâng lời Chúa Giêsu và vâng lệnh Ngài, tôi tha thứ cho những người xử tử tôi. Tôi không hờn ghét họ. Tôi cầu khẩn Thiên Chúa thương xót tất cả các bạn và tôi hy vọng máu tôi sẽ tuôn rơi trên đồng bào tôi như là những giọt mưa giúp phát sinh nhiều hoa trái".
Ðó là lời phát biểu cuối cùng khi đang bị treo trên thập tự của thầy Phaolô Miki, người Nhật thuộc dòng Tên, người được biết đến nhiều nhất trong số 26 vị tử đạo tại Nhật.
Ngày nay, một thời đại mới đã khởi đầu cho Giáo Hội Nhật. Tuy là một thiểu số khiêm nhường, nhưng những người Công Giáo tại Nhật được mọi người kính nể và được hưởng tự do hoàn toàn tiếp tục rao giảng Tin Mừng và Niềm tin Thánh Phaolô Miki đã rao giảng trong cuộc sống của Ngài và trong những giây phút sắp lìa trần.
Ước gì sự xác tin, lòng can đảm và sự sẵn sàng tha thứ của Thánh Miki được tiếp tục sống mãi trong tâm hồn các anh chị em tín hữu Nhật và trong tất cả chúng ta

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

Lời Chúa: Thứ Năm sau Chúa nhật IV Thường Niên năm B. 05.02.2015

Thánh A-ga-ta, trinh nữ, tử đạo - lễ nhớ
PHÚC ÂM:   Mc 6,7-13
“Đức Giê-su bắt đầu sai các Tông Đồ đi rao giảng.”
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
7 Khi ấy, Đức Giê-su gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trên các thần ô uế. 8 Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy ; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng ; 9 được đi dép, nhưng không được mặc hai áo. 10 Người bảo các ông : “Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi. 11 Còn nơi nào người ta không đón tiếp và không nghe anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi đất dưới chân để tỏ ý cảnh cáo họ.” 12 Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. 13 Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh. 
Suy niệm:

Là người, ai cũng có lý tưởng và mục đích sống. Người có lý tưởng cao sang nhưng cũng có người lý tưởng rất bình dị. Mục đích người nông dân chăm sóc ruộng vườn để thu hoạch mùa màng bội thu cho dù phải dằm mưa phơi nắng. Học sinh, sinh viên luôn ước ao đạt kết quả tốt để có tương lai tươi sáng dù phải miệt mài đèn sách. Mục đích chung của con người là đi tìm hạnh phúc. Đối với người Công giáo không những tìm hạnh phúc hiện tại mà còn tìm hạnh phúc mai sau. Vậy làm thế nào để đạt được ước nguyện trên?
Muốn đạt được hạnh phúc đời này lẫn đời sau mỗi người chúng ta cần có mục đích sống và cần có một nơi để ta đi tới. Mục đích sống là đi tìm hạnh phúc và nơi ta sẽ đi tới là thành thánh Giêrusalem trên trời mà tác giả bài đọc thứ nhất mời gọi chúng ta: ‘Anh em hãy tới núi Sion, tới thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giêrusalem trên trời, với con số muôn vàn thiên sứ’ (Dt 12,22).
Trước khi chúng ta đến núi Sion thành đô của Chúa chúng ta hãy đến núi Sinai qua việc sống mười điều răn (Xh 19,16-23). Núi Sinai mà tác giả Thư Do Thái diễn tả hôm nay có lẽ không được trong sáng vì mây mù, giông tố và cả tiếng thét nữa (Dt 12,18-19). Hình ảnh trên diễn tả rằng: chúng ta không quyết tâm đi theo con đường của Chúa mà chiều theo những cám dỗ vật chất làm lu mờ ngọn đèn đức tin của chúng ta.
Muốn vượt qua những thử thách trên, chúng ta tiến xa thêm một bước nữa là sống theo giới răn mới của Chúa Giêsu là mến Chúa và yêu người (Ga 13, 34). Yêu thương cụ thể qua bài Tin Mừng hôm nay là mang bình an của Chúa đến cho tha nhân qua việc mời gọi họ sám hối (Mc 6,12). Ngoài ra, chúng ta cũng chia sẻ niềm vui Tin Mừng của Chúa đến tha nhân như Đức Giáo Hoàng Phanxicô mời gọi mọi người không những giữ đạo mà còn sống đạo và thực hành đạo yêu thương như Chúa Giêsu vậy!

Sống Lời Chúa:                                 
Thành công cũng như lỗi lầm của các tông đồ cho thấy họ không khác gì chúng ta cả.  Đôi khi họ cầu nguyện cho một người được chữa lành mà chẳng thấy kết quả gì.  Cũng giống họ, chúng ta có thể cầu xin cho một người được chữa lành mà vẫn chẳng thấy có gì thay đổi, mặc dù đã cầu xin một thời gian dài.  Đôi khi các tông đồ cũng cãi cọ nhau.  Giống như họ, có thể chúng ta thấy khó tha thứ cho một người làm chúng ta bị tổn thương.  Không sao, vì ngay đến các tông đồ đã được Chúa tận tay tuyển chọn cũng có cùng những phấn đấu như chúng ta.
Lại nữa, Chúa muốn chúng ta cứ tiếp tục cầu nguyện xin được chữa lành và quyết tâm tha thứ.  Bạn hãy nhớ thánh Phao-lô đã ba lần xin Chúa Giê-su cất đi khỏi ngài một cái gai thiêng liêng, nhưng Chúa bảo ngài:  “Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cô-rin-tô 12:9).  Dù tình huống thế nào, Chúa Giê-su sẽ ban cho chúng ta ân sủng để tiếp tục theo Người. 

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giê-su, con cám ơn Chúa đã ban cho con những gương mẫu là các tông đồ.  Xin Chúa ban cho con ân sủng, để con có thể sống cho Chúa.

Lẽ sống:
Một cách tỏ tình

Du khách viếng thăm hành lang nổi tiếng của nhà thờ chánh tòa Thánh Phaolô ở Luân Ðôn có thể nghe tiếng của người hướng dẫn đang thuật lại lịch sử của nhà thờ truyền đi khắp nơi chung quanh vòm mái tròn to lớn ở chánh điện, nhờ các kiến trúc đặc biệt làm tiếng nói vang dội mang âm thanh đi rất xa. Cũng vì thế, nên nếu áp tai vào tường người ta có thể nghe được những gì một người nói từ phía bên kia của vòm mái tròn, mặc dầu đó chỉ là một giọng nói thì thầm tâm sự.
Cách đây đã lâu, mượn nhà thờ chánh tòa làm nơi hẹn hò, một người hành nghề đóng giày than vãn với người yêu là chàng chưa thể tiến hành lễ cưới ngay bây giờ được. Hiện tại chàng không có cả tiền để mua da và các vật liệu cần thiết để có thể tiếp tục hành nghề, vì thế chàng đang phải thất nghiệp dài dài, đào đâu ra tiền để làm đám cưới. Nghe tin bất lành, ý trung nhân của anh chỉ biết sụt sùi khóc.
Ðang lúc ấy, một người tình cờ đi qua hành lang phia bên kia nghe được câu chuyện thương tâm và những lời cầu nguyện của anh thợ đóng giày. Ông ta quyết định làm một cái gì để giúp đôi trai gái được thành gia thất. Vì thế, khi chàng trai từ giã người bạn gái thất thểu ra về, ông ta cũng tiến bước theo sau để biết chỗ ở của anh ta và lập tức cho người mang đến tặng cho anh một số da. Chàng đóng giày phấn khởi bắt tay vào việc và không bao lâu công việc làm ăn phát đạt tạo đủ điều kiện để anh có thể tiến hành hôn lễ với người yêu. Mãi đến mấy năm sau, hai vợ chồng mới biết vị ân nhân của mình là ông William Gladston, vị thủ tướng Anh quốc lúc bấy giờ.

Trong Kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến hai tư tưởng chúng ta có thể đào sâu để củng cố niềm tin Kitô của chúng ta. Ðó là: Thiên Chúa là Cha nhân hậu, Người luôn lắng nghe và sẵn lòng ban cho chúng ta, con cái của Người, mọi ơn lành Người biết là sẽ mang lợi ích thật sự cho chúng ta, như vị thủ tướng Anh quốc nghe những lời tâm sự thì thầm của đôi trai gái trên và ra tay giúp đỡ họ. Vì thế, chúng ta hãy kiên tâm, bền chí trong lúc cầu xin.

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015

Lời Chúa: Thứ Tư sau Chúa nhật IV Thường Niên năm B. 04.02.2015

PHÚC ÂM:   Mc 6,1-6
“Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình.”
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
1 Khi ấy, Đức Giê-su trở về quê quán của Người, có các môn đệ đi theo. 2 Đến ngày sa-bát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói : “Bởi đâu ông ta được như thế ? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao ? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì ? 3 Ông ta không phải là bác thợ, con bà Ma-ri-a và là anh em của các ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn sao ? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao ?” Và họ vấp ngã vì Người. 4 Đức Giê-su bảo họ : “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.” 5 Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó ; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ. 6 Người lấy làm lạ vì họ không tin. Rồi Người đi các làng chung quanh mà giảng dạy.

Suy niệm:

Tác giả Thư Do Thái khuyên nhủ tín hữu biết quý mến việc sửa dạy của Thiên Chúa. Theo tâm lý chung, con người không thích người khác chê hay sửa dạy. Có người tự ái dẫn đến phật lòng nhau. Tuy nhiên, việc sửa dạy đem đến cho chúng ta những việc hữu ích: ‘Ngay lúc bị sửa dạy, thì chẳng ai lấy làm vui thú mà chỉ thấy buồn phiền. Nhưng sau đó, những người chịu rèn luyện như thế sẽ gặt được hoa trái là bình an và công chính’ (Dt 12,11).
Ngoài ra, nếu chúng ta kiên trì để cho lời Chúa sửa dạy thì chúng ta sẽ nhận được những điều tốt đẹp cho chính mình và giúp ích cho người khác vươn lên trong đời sống đức tin: ‘Bởi vậy, hãy làm cho những bàn tay bủn rủn, những đầu gối rã rời, nên mạnh mẽ. Hãy sửa đường cho thẳng mà đi, để người què khỏi trật bước và hơn nữa, còn được chữa lành’ (Dt 12,12-13).
Hơn nửa, nếu chúng ta kiên trì việc sửa dạy thì việc ấy còn giúp ích cho đời sống cộng đoàn, rất thích hợp trong năm Tân Phúc Âm Hóa Cộng đoàn và Họ đạo: ‘Anh em phải cố ăn ở hòa thuận với mọi người, phải gắng trở nên thánh thiện; vì không có sự thánh thiện, thì không ai sẽ thấy Chúa. Anh em phải coi chừng, kẻo có ai lừng khừng mà mất ân sủng của Thiên Chúa, kẻo có ai trở nên rễ đắng nảy mầm, gây xáo trộn và do đó làm hư hỏng nhiều người’ (Dt 12,14-15).
Sau cùng để Chúa dạy, chúng ta sẽ sống khiêm tốn hơn và nhất là biết nhận ra giới hạn của con người đồng thời nhận ra quyền năng của Thiên Chúa (Mc 6,2). Từ đó chúng ta không bao giờ xúc phạm đến Chúa như dân làng Nadarét coi thường Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay (Mc 6,3). Kết quả, Chúa Giêsu rời khỏi nơi ấy mà không có phép lạ nào xảy ra. Cũng vậy, nếu thiếu sự khiêm hạ có lẽ ân huệ của Chúa cũng tránh xa chúng ta.

Sống Lời Chúa:                                 
Tập nhận ra một khía cạnh tích cực, một đức tính nổi bật của những người sống quanh mình.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giê-su, tựa như dân làng Na-da-rét, cũng có lúc chúng con không tin Chúa hiện diện dưới hình bánh mong manh, nơi một linh mục yếu đuối, trong một Hội Thánh có nhiều bất toàn. Xin thêm đức tin cho chúng con.

Lẽ sống:
Lạy cha chúng con ở trên trời

Con gái ông Karl Marx có lần thú nhận với người bạn gái từ thủa nhỏ bà không được huấn luyện cho biết có Tôn giáo và Tín ngưỡng cũng như chính bà không cảm thấy mình có một tâm tình tôn giáo hay tin tưởng vào một thực tại vô hình nào.
tâm sự tiếp: một ngày kia bà tình cờ đọc được một kinh của người Kitô mà bà thầm mong ước là những câu kinh ấy được biến thành sự thật.
Nghe nói thế, người bạn gái của bà không khỏi ngạc nhiên và tò mò hỏi: "Kinh gì mà hay thế?". Thay vì trả lời trực tiếp câu hỏi này, người con gái ông Karl Marx chậm rãi đọc bằng tiếng Ðức: "Vater unser im Hinmel? Lạy Cha chúng con ở trên trời?".
Có một Giám Mục kia trên đường kinh lý giáo phận, ghé thăm gia đình một bà lão. Người ta nói bà là một tấm gương cho cả làng soi chung. Trong khi thăm, vị Giám Mục hỏi:
- Bà thường hay đọc sách đạo đức nào nhất?
- Thưa Ðức Cha con không biết đọc, bà cụ trả lời. Nghe nói thế, vị Giám Mục tiếp tục hỏi: "Nhưng bà hay cầu nguyện cơ mà?". Thấy Giám Mục đã biết bí quyết của mình, bà cụ thật thà thưa:
- Thưa Ðức Cha, con chỉ biết tràng hạt thôi: Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng, Kinh Tin Kính. Một ngày con khởi sự đọc đến mười lần nhưng thường thì con không đọc xong.
- Tại sao thế? Vị Giám Mục muốn biết. Bà cụ thuật tiếp:
- Tại vì khi con bắt đầu đọc: Lạy Cha chúng con? Con bỗng không hiểu sao Chúa có thể tốt lành đến mực cho phép một bà già hèn mọn như con được gọi ngài là Cha. Ðiều đó làm cho con phải khóc và rồi con không thể nào đọc tiếp hết chuỗi được. Nghe thuật lại kinh nghiệm trên, vị Giám Mục khuyến khích:
- À, này bà cụ, đó là lời cầu nguyện trị giá bằng tất cả những lời cầu nguyện của chúng tôi. Bà cứ tiếp tục và luôn cầu nguyện theo câu đó.
Tục ngữ Việt Nam có câu: "Gần chùa gọi bụt bằng anh". Ðó là tâm tình thông thường của con người. Bởi lẽ những thực tại dù to lớn đến đâu, nếu đã trở nên những công việc hằng ngày thường bị hạ thấp giá trị.

Ước gì Kinh Lạy Cha giúp chúng ta ý thức thật sâu đậm về sự thật: Thiên Chúa là Cha chúng ta, như bà cụ đơn sơ trong câu chuyện trên đã cảm nghiệm được, đồng thời giúp chúng ta sống và thực hành những gì chúng ta luôn miệng cầu khẩn trong kinh Lạy Cha.

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

Lời Chúa: Thứ Ba sau Chúa nhật IV Thường Niên năm B. 03.02.2015

Thánh Bơ-la-xi-ô, giám mục, tử đạo và Thánh An-ga-ri-o, giám mục
PHÚC ÂM:   Mc 5,21-43
“Này bé, Thầy truyền cho con : trỗi dậy đi !”
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
21 Khi ấy, Đức Giê-su xuống thuyền, sang bờ bên kia. Một đám rất đông tụ lại quanh Người. Lúc đó, Người đang ở trên bờ Biển Hồ. 22 Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giê-su, ông ta sụp xuống dưới chân Người, 23 và khẩn khoản nài xin : “Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu chữa và được sống.” 24 Người liền ra đi với ông. Một đám rất đông đi theo và chen lấn Người.
25 Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, 26 bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều, đến tán gia bại sản, mà bệnh vẫn không thuyên giảm, lại còn thêm nặng là khác. 27 Được nghe đồn về Đức Giê-su, bà lách qua đám đông, tiến đến phía sau Người, và sờ vào áo choàng của Người. 28 Vì bà tự nhủ : “Tôi mà sờ được vào áo choàng của Người thôi, là sẽ được cứu chữa.” 29 Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. 30 Ngay lúc đó, Đức Giê-su nhận thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi : “Ai đã sờ vào áo tôi ?” 31 Các môn đệ thưa : “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi : ‘Ai đã sờ vào tôi ?’” 32 Đức Giê-su ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó. 33 Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người. 34 Người nói với bà ta : “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”
35 Đức Giê-su còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo : “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa ?” 36 Nhưng Đức Giê-su nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường : “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.” 37 Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và em ông này là ông Gio-an. 38 Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giê-su thấy cảnh ồn ào và người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ. 39 Người bước vào nhà và bảo họ : “Sao lại ồn ào và khóc lóc như vậy ? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy !” 40 Họ chế nhạo Người. Nhưng Người đuổi họ ra ngoài hết, rồi đưa cha mẹ đứa trẻ và những kẻ theo Người, cùng đi vào nơi nó đang nằm. 41 Người cầm lấy tay nó và nói : “Ta-li-tha kum”, có nghĩa là : “Này bé, Thầy truyền cho con : trỗi dậy đi !” 42 Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta sửng sốt kinh ngạc. 43 Đức Giê-su nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy, và bảo họ cho con bé ăn.
Suy niệm:

Một số bản Kinh Thánh đã in những lời Chúa Giê-su phán bằng chữ mầu đỏ để người ta chú ý đến những điều Chúa đã nói khi sống trên trần gian.  Đó không phải là một ý tưởng dở, dầu sao đó cũng chỉ là dịch ra những lời Chúa đã thực sự nói.  Tuy nhiên đoạn Tin Mừng hôm nay còn đi xa hơn.  Talitha koum không phải là từ dịch;  nhưng là nguyên văn những từ trong tiếng Aram mà Chúa Giê-su đã nói.
          Bạn thử tưởng tượng mình đang ở trong khung cảnh câu chuyện Tin Mừng hôm nay.  Có lẽ bạn là người cha hay mẹ đang lo lắng, hoặc là một người đang than khóc não nề hay là một trong những môn đệ của Chúa.  Bạn hãy loanh quanh bao lâu có thể bên cạnh những người khách qua đường.  Nhưng rồi bạn hãy tưởng tượng như đang nằm bất động trên giường chết giống như bé gái kia.  Bất ngờ hai tiếng vang lên trong đêm tối:  talitha khoum!        
Vào lúc này trong phòng không có một ai.  Chúa Giê-su đang nói lời này với một mình bạn thôi.  Người đã làm cho bạn nghe được tiếng Người nói.  Rồi bạn thấy Người đang cầm tay bạn.  Sức mạnh từ nơi Người phát ra, giúp cho bạn có thể làm được điều bạn không thể:  đứng dậy khỏi giường chết.  Nhưng bạn đừng vội bước xuống.  Chúa Giê-su đang mỉm cười với bạn.  Giống như Chúa đã nhận ra người phụ nữ bị mắc bệnh băng huyết giữa đám đông một lúc trước đây và nhìn vào bà, Người cũng đang chăm chú nhìn bạn.  Với tình yêu vững bền có thể chữa lành bất cứ bệnh tật nào và làm yên lặng bất cứ cơn bão tố nào, Người đang  bảo bạn:  hãy trỗi dậy! Thiên Chúa thường bảo các tôi tớ Người hãy trỗi dậy.  Người phán với Ê-li-a:  “Ngươi hãy đứng dậy đi tới Xa-rép-ta… Ta đã truyền cho một bà góa ở đó nuôi ngươi” (1 Vua 17:9).  Chúa bảo người chết:  “Này người thanh niên, tôi bảo anh:  hãy trỗi dậy!” (Lu-ca 7:14).  Một anh mù ngồi bên đường ngoài thành Giê-ri-khô nghe người ta nói:  “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy” (Mác-cô 10:49).  Một thiên sứ nói với phó tế Phi-líp-phê:  “Đứng lên, đi về hướng nam” (Công Vụ Tông Đồ 8:26).
Trỗi dậy đi!  Hãy đứng lên!  Ta có một kế hoạch cho con!  Có thể chúng ta không biết đích xác điều gì sẽ xảy ra kế tiếp, nhưng chúng ta biết chắc rằng Chúa nắm mọi sự trong tay Người.
          Hôm nay khi cầu nguyện, bạn hãy đứng thẳng.  Hãy hỏi Chúa muốn bạn làm điều gì tiếp theo.  Đừng lo lắng đấy là việc không thể làm được.  Cứ hướng mắt “chăm chú nhìn vào Chúa Giê-su” (Do-thái 12:2).  Nếu Người có thể cho kẻ đã chết sống lại, chắc chắn Người cũng có thể chăm sóc bạn!

Sống Lời Chúa:                                 
Trong bài Tin Mừng, đức tin của con người kết hợp với ân ban của Chúa đã chữa lành người phụ nữ bị bệnh băng huyết 12 năm (Mc 5,27-29) và đã cứu sống con gái của ông trưởng hội đường (Mc 5,41-42). Đức Giêsu nói với ông trưởng hội đường: ‘Ông đừng sợ, chỉ cần Tin thôi’ (Mc 5,36).

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giê-su, con đang đứng, sẵn sàng làm bất cứ điều gì Chúa muốn con làm.

Lẽ sống:
Ngôn ngữ của tình yêu
    
Có lẽ cái tên của Helen Keller, một cô gái câm điếc người Mỹ, đã trở thành bậc khoa bảng, không còn xa lạ với chúng ta nữa. Vừa được 19 tháng, sau một cơn đau màng óc, cô gái bất hạnh này trở thành mù lòa và câm điếc. Thế giới của âm thanh và màu sắc đã khép hẳn cánh cửa lại với cô.
    Làm thế nào để truyền thụ kiến thức cho một người đã câm điếc lại còn mù lòa? Cha mẹ của cô bé dường như muốn bó tay. Nhưng có một cô giáo tên là Anna Sullivan đã không muốn bỏ cuộc. Hy vọng duy nhất mà cô giáo này có thể truyền thông và liên lạc với cô gái mù lòa và câm điếc này qua việc tiếp xúc với bàn tay của cô. Chỉ có thể tiếp xúc với thế giới bằng đôi tay, nhưng Helen Keller đã có thể học xong Ðại Học, tốt nghiệp Tiến sĩ và trở thành văn sĩ.
Cho người mù lòa và câm điếc chạm vào một sự vật và viết lên tên gọi của sự vật ấy: đó là phương pháp của cô giáo Anna Sullivan. Dạy về những sự vật cụ thể như cái bàn, cuốn sách, cành cây, con chó? xem ra không hẳn là điều khó. Nhưng làm thế nào để diễn tả cho Helen hiểu được những ý niệm trừu tượng như tình yêu chẳng hạn? 
    Ngày kia, cô giáo Anna Sullivan đã viết lên tay của Helen Keller hai chữ "Tình Yêu" rồi ôm trầm lấy cô bé hôn lấy hôn để với tất cả sự thành thật và nhiệt tình của cô. Lần đầu tiên trong đời, cô gái câm điếc mù lòa bỗng cảm thấy tim mình đập mạnh và cô hiểu được thế nào là Yêu Thương.
    Ngôn ngữ của Tình Yêu là những hành động cụ thể.  
Ánh mắt trìu mến, những âu yếm vuốt ve của người mẹ đối với đứa con mới lọt lòng có giá trị hơn bất cứ một quyển sách biên khảo nào về tình yêu. Nhưng mồ hôi và nước mắt, những hy sinh hằng ngày của người cha giúp con cái hiểu được thế nào là Yêu thương hơn bất cứ lời dẫn giải nào về Tình Yêu. Và có lẽ cũng thừa thãi để bảo rằng khi hai người yêu nhau thì sự thinh lặng và những cử chỉ âu yếm có sức mạnh hùng hồn hơn những lời nói hoa mỹ, những trống rỗng.
    Thiên Chúa là Tình Yêu. Ngài tỏ tình, Ngài bộc lộ tình yêu với con người không chỉ bằng những lời nói suông, mà bằng cả lịch sử của những can thiệp, những thể hiện cụ thể.
    Một tình yêu không được chứng tỏ bằng những hành động cụ thể là một tình yêu giả dối, lừa bịp.
    Ðạo Kitô của chúng ta là Ðạo của Tình Yêu. Một người kitô không sống Tình Yêu, không viết lên hai chữ Tình Yêu bằng những hành động cụ thể đối với tha nhân, người đó chỉ là một người Kitô giả hiệu, một Ðức Tin không việc làm là một Ðức Tin chết. Một lòng Mến không được thể hiện bằng hoa trái của lòng Mến chỉ là lòng Mến giả tạo.