Thứ Ba, 5 tháng 8, 2014

Lời Chúa: thứ Tư XVIII Thường Niên Năm A. 06.8.2014

PHÚC ÂM: Mt 17, 1-9
"Mặt Người chiếu sáng như mặt trời".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

    Khi ấy, Chúa Giêsu gọi Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông này, và Người đưa các ông tới chỗ riêng biệt trên núi cao. Người biến hình trước mặt các ông: mặt Người chiếu sáng như mặt trời, áo Người trở nên trắng như tuyết. Và đây ông Môsê và Êlia hiện ra và đàm đạo với Người. 
   Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm; nếu Thầy ưng, chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia". Lúc ông còn đang nói, thì có một đám mây sáng bao phủ các Ngài, và có tiếng từ trong đám mây phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người". Nghe thấy vậy, các môn đệ ngã sấp xuống và hết sức sợ hãi. Bấy giờ Chúa Giêsu đến gần, động đến các ông và bảo: "Các con hãy đứng dậy, đừng sợ". Ngước mắt lên, các ông thấy chẳng còn ai, trừ ra một mình Chúa Giêsu. 
    Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các ông rằng: "Các con không được nói với ai về việc đã thấy, cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại".

Suy niệm:
Phép rửa với Hiển Dung.
Hiển Dung là minh chứng Đức Giêsu chiến thắng mọi ác thần trong suốt cuộc đời của Ngài chịu cám dỗ, khởi đi từ phép rửa ở sông Giođan cho tới núi Sọ.
Lời của Chúa Cha giới thiệu Đức Giêsu cho nhân loại : “Đây là Con chí ái Ta, kẻ Ta sủng mộ”, chỉ xuất hiện hai lần trong cuộc đời của Ngài : Khi Ngài chịu phép rửa ở sông Giođan (x Mt 3,17) và lúc Ngài Hiển Dung ở núi cao  (Mt 17,5a ; Mc 9,2 ; Lc 9,28b).
Cám dỗ với Hiển Dung và Tử Nạn
Đức Giêsu bị cám dỗ liên lỉ, điển hình :
-         Đầu cuộc đời công khai của Đức Giêsu, quỷ cám dỗ Ngài ba lần (x Mt 4,11).
-         Tại núi Hiển Dung, môn đệ cám dỗ Đức Giêsu đừng xuống núi để các ông làm ba lều (x Mt 17,4 : Tin Mừng).
Vào giờ Đức Giêsu chịu Tử Nạn, mọi người cám dỗ Ngài ba điều :
-    Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại?
-    Hãy cứu lấy mình đi?
-    Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào? (Mt 27,40).
Hiển Dung  với Tử Nạn, Phục Sinh, và Lên Trời.
Ta  thấy các chi tiết ở núi Hiển Dung đều xảy ra vào giờ Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu:
-         Ông Matthêu ghi “sáu ngày sau” Đức Giêsu Hiển Dung (x Mt 17,1) là báo trước Ngài bị giết vào ngày thứ sáu, rồi ngày thứ I trong tuần, tức là ngày thứ tám Ngài sống lại và lên trời (x Lc 24).
-         Tại núi Hiển Dung, cũng như núi Cây Dầu, vào giờ Tử Nạn, Đức Giêsu bị bắt đều có ba ông Phêrô, Gioan và Giacôbê ở với Đức Giêsu (x Mt 17,4 = Mt 26,37).
-         Nơi núi Hiển Dung và núi Sọ (vào lúc 3 giờ ngày Thứ Sáu Tuần Thánh), rồi lên trời đều có mây bao phủ ngọn núi (x Mt 17,5 = Mt 27,45 = Cv 1,9).
-         Nơi núi Hiển Dung có hai ông Môsê và Êlya hiện ra đàm đạo với Đức Giêsu (x Mt 17,3 ; Mc 9,4 ; Lc 9,30: Tin Mừng) ; thì vào lúc Đức Giêsu phục sinh có hai Thiên thần từ trời đến báo cho các bà ra mộ : Đức Giêsu không còn ở đây (x Ga 20,12) ; và chính lúc Đức Giêsu lên Trời, cũng có hai Thiên thần nói với các môn đệ đang đứng nhìn Thầy về Trời : các ông hãy trở về, Ngài sẽ đến cùng một thể thức như các ông vừa thấy (x Cv 1,10).
Thánh Tôma Tiến sĩ nói : “Mỗi vấn đề phải được giải quyết trong lãnh vực của nó”.
1/ Muốn có thân xác khỏe mạnh, ta phải ăn uống điều độ và đủ chất dinh dưỡng ; thêm vào mỗi ngày ta phải tập thể thao thể dục.
2/ Muốn có trí tuệ thông minh, tài ba, ta phải chăm chỉ học hành và cần cù làm việc.
3/ Muốn có tâm hồn đạo đức thánh thiện, ta phải là người Công Giáo siêng năng hiệp dâng Thánh Lễ, để tâm nghe và thực hành Lời Chúa qua Phụng Vụ của Hội Thánh.
Từ lúc Đức Giêsu bị xử án. Ngài đã chấm dứt giảng dạy, ai muốn nghe Giáo Lý của Đức Giêsu, Ngài bảo : “Cứ vào Nhà Thờ hỏi người nghe tôi giảng dạy, vì hằng ngày tôi giảng cách công khai ở đó (x Ga 18,19-21), thì ta phải hiểu đó chính là lúc Hội Thánh cử hành Phụng Vụ, là ta thực hành giáo huấn của Công Đồng Vat.II trong Hiến Chế Phụng Vụ số 7: “Thiên Chúa hiện diện thiết thực khi ta đọc Thánh Kinh trong Hội Thánh”.
Vì trong Phụng Vụ Hội Thánh thể hiện quyền giáo huấn Chúa đã ban riêng cho, bằng cách chọn các Bài đọc trích từ Kinh Thánh và giáo sĩ giảng phải dựa vào các Bài đọc ấy mà trình bày các mầu nhiệm Đức Tin và những Quy Tắc cho đời sống Kitô hữu trong suốt chu kỳ năm Phụng Vụ (x HCPV số 24 và 52).
Sống Lời Chúa:
+  Mỗi khi ta tham dự Phụng Vụ của Hội Thánh, đặc biệt là Thánh Lễ, ta được nghe Lời Con chí ái của Cha, và trở nên một trong Người, thì ta như một thanh sắt được nung trong lửa, vì Thiên Chúa là Lửa (x Dt 12,29). Do đó ngôn sứ Daniel nói : “Ngai của Người toàn là ngọn lửa, bánh xe của ngai cũng rực lửa hồng. Từ trước nhan Người, một sông lửa cuồn cuộn chảy ra” (Dn 7,9c-10a : Bài đọc I). Khi thanh sắt đã được nung đỏ, thì không ai nhìn nó như cây sắt, nhưng thấy nó là thanh lửa. Thế nên ta cũng được thông dự vinh quang với Con Thiên Chúa đã hé mở trên núi Hiển Dung, và được tồn tại muôn đời, như hai ông Môsê và Êlya, cùng xuất hiện trong vinh quang trên núi Hiển Dung với Đức Giêsu, chỉ vì hai ông có liên hệ mật thiết với Lời Chúa, đúng như Lời Đức Giêsu đã nói : “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mt 24,35). Nghĩa là ai liên hệ mật thiết với Lời Chúa, thì họ là con người vĩnh cửu như ông Môsê. Điều ấy Kinh Thánh chứng minh : Dù người ta đã chôn cất ông trong xứ Môab theo lệnh của Chúa, nhưng không ai tìm ra mộ của ông (x Dnl 30,6) ; còn ông Êlya thì đang sống, Chúa đã cất giấu ông đi và sẽ cho xuất hiện trong ngày Chúa quang lâm (x Hc 48,1 ; Ml 3,23).
+ Thế giới hôm nay không thấy Chúa biến hình sáng láng, nhưng họ có thể cảm nghiệm được phần nào khi thấy các Kitô hữu có khuôn mặt vui tươi, chan chứa niềm tin, tình thương và hy vọng. Sám hối là đổi tâm hồn, đổi khuôn mặt để chính tôi và cả Hội Thánh mang một khuôn mặt mới.
+  Đức tin của chúng ta có được là do Thiên Chúa mặc khải và do lời chứng của những người có thế giá trong lịch sử ghi nhận lại.
+  Con người không dễ chấp nhận con đường đau khổ và Thánh Giá; nhưng đối với chúng ta là những người có đức tin, đau khổ và Thánh Giá là kế hoạch Thiên Chúa dùng để cứu độ con người.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cho con biết cầu nguyện, lúc hạnh phúc cũng như khi đau khổ và ước chi mọi người thấy nét tươi tắn của Chúa trong nụ cười của con, thấy sự dịu dàng của Chúa trong lời nói của con, xin cho con biết “vâng theo lời Chúa” nhẫn nại và can đảm cùng đi với Chúa với tha nhân trong cuộc sống hàng ngày.
Lẽ sống:
Bảng kết tội nhau

Tạp chí Reader's Digest, số xuất bản tháng 11 năm 1985 có đăng một chuyện ngắn, nhưng đầy ý nghĩa về gia đình: Ðôi vợ chồng đã nhiều lần cãi nhau và lần này, đang lúc hai người cãi nhau hăng say, thì người chồng đề nghị với vợ: "Này, chúng ta đừng cãi nhau nữa. Mỗi người hãy lấy giấy, viết ra tất cả những lỗi lầm, những tật xấu của người kia, rồi trao cho nhau".

Người vợ đồng ý. Người chồng cầm lấy tờ giấy, nhìn người vợ và cúi mặt xuống viết một câu. Người vợ thấy chồng mình bắt đầu viết, liền hối hả viết liên hồi, dường như cố ý tranh với chồng, để kể ra nhiều tật xấu hơn. Người chồng chỉ viết một câu rồi dừng lại nhìn vợ. Sau vài phút, trang giấy của người vợ đầy những dòng chữ kể ra tật xấu của người chồng và người vợ xem ra hả dạ, vì đã viết nhiều hơn.

Ðến lúc không còn gì để viết nữa, họ trao cho nhau bảng kể tội của nhau. Sau khi nhìn vào tờ giấy của chồng, nét mặt người vợ bỗng đổi vì xúc động. Bà vội vã đòi lại tờ giấy đã đưa cho chồng và có thái độ làm hòa ngay. Trong tờ giấy của người chồng bà chỉ đọc được có một câu duy nhất: Anh yêu em!

Nếu tình yêu chân thật là nền tảng cho mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, thì con người không bao giờ dám lên tiếng phàn nàn than trách Thiên Chúa. Nếu tình yêu là nền tảng cho mối tương quan giữa con người với con người, thì sẽ không còn cảnh tranh giành, xung đột, hận thù lẫn nhau nữa.

Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

Lời Chúa: thứ Ba XVIII Thường Niên Năm A. 05.8.2014

PHÚC ÂM:   Mt 15,1-2.10-14
"Ô uế và tinh sạch".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.


Bấy giờ có mấy người Pha-ri-sêu và mấy kinh sư từ Giê-ru-sa-lem đến gặp Đức Giê-su và nói rằng :  “Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân, không chịu rửa tay khi dùng bữa ?”
          Sau đó, Đức Giê-su gọi đám đông lại mà bảo : “Hãy nghe và hiểu cho rõ : Không phải cái vào miệng làm cho con người ra ô uế, nhưng cái từ miệng xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế.” Bấy giờ các môn đệ đến gần Đức Giê-su mà thưa rằng : “Thầy có biết không ? Những người Pha-ri-sêu đã vấp phạm khi nghe Thầy nói lời ấy.” Đức Giê-su đáp : “Cây nào mà Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời, đã không trồng, thì sẽ bị nhổ đi. Cứ để mặc họ. Họ là những người mù dắt người mù. Mù mà lại dắt mù, cả hai sẽ lăn cù xuống hố.”

Suy niệm:
1.     Do Thái giáo coi trọng những nghi thức thanh tẩy bằng nước.
Aharon và các tư tế con của ông, trước khi tiến đến bàn thờ để dâng lễ, phải rửa tay chân bằng nước đựng trong một cái vạc đồng. “Họ sẽ tẩy rửa tay chân để khỏi phải chết. Đó là điều luật vĩnh viễn cho Aharon và dòng dõi ông qua muôn thế hệ” (Xh 30, 20-21).
Khi khám phá ra những di tích ở Qumran, phía tây bắc Biển Chết, người ta thấy có nhiều hồ tắm (mikvah) được đào dưới lớp đất sét giữ nước. Cộng đoàn những người sống ở đây coi việc tắm rửa hằng ngày tại hồ như một nghi thức thanh tẩy không thể thiếu trong cuộc sống của họ.
Bài Tin Mừng hôm nay bàn đến chuyện thanh tẩy trước khi ăn. Nhóm Pharisêu trách Đức Giêsu vì môn đệ Ngài không rửa tay khi dùng bữa. Thật ra trong Kinh Thánh Cựu Ước chẳng có luật nào dạy như vậy. Người Pharisêu đã dựa trên một truyền thống truyền khẩu có từ thời ông Môsê. Họ coi truyền thống tiền nhân này cũng ràng buộc chẳng khác nào Kinh Thánh.
Đức Giêsu nặng lời vì họ đặt truyền thống của mình lên trên Lời Chúa (cc. 3-9). Khi để ý chi li những điều bên ngoài để giữ cho mình khỏi bị ô uế, họ xao lãng việc để ý đến cái ô uế bên trong con người.
2.     Ngày xưa, có người học trò hỏi Đức Khổng thế này:
“Nếu mình xấu mà người ta nói mình tốt, người đó có tốt không?” Đức Khổng trả lời: “Không!”. Cậu học trò hỏi tiếp: “Vậy ai là người tốt?”. Lần này Đức Khổng trả lời: “Người tốt là người chân thành nói sự thật. Nếu mình xấu, người ta bảo là xấu. Mình tốt, người ta bảo là tốt”.
Thật vậy, người tốt là người sống thật tâm, không nịnh bợ, tâng bốc, hai lòng, lập lờ... Người tốt là người không vụ lợi, không nhân danh tập thể để lợi dụng cho cá nhân mình, không ăn bớt của công, và cuối cùng, họ là những người không: “sợ tiếng chửi, và ăn mày tiếng khen” (x. Đường Hy Vọng số 693).
Hôm nay, Đức Giêsu đã dạy cho những người Pharisêu và các Kinh sự bài học về việc giữ Luật. Luật vì con người chứ không phải con người vì Luật. Hiểu và giữ cốt lõi của Luật là tình thương thì quan trọng và đẹp ý Thiên Chúa hơn là những thứ bề ngoài. Trong khi đó, các Pharisêu và Kinh sư lại cổ súy người ta sống xa rời cốt lõi của Luật để chỉ tuân giữ Luật cách hình thức và chú tâm vào việc giữ gìn truyền thống cha ông mà thôi.
Thật vậy, nếu chỉ có vì Luật, người ta sẽ xử với nhau trên mặt chữ hay cái đầu mà không cần cái lý, cái tình và trái tim. Nếu cứ bề ngoài mà đánh giá và lấy đó làm chuẩn mực, thì sẽ luôn xảy ra tình trạng “thấy vậy mà không phải vậy” do những kẻ cầu thân nịnh bợ gây nên. Họ là những hạng người: “bên ngoài thì trông sáng láng, đẹp đẽ như mồ mả được tô vôi, nhưng bên trong thì toàn là xương người chết, dơ bẩn, thối tha”.
Nói như thế không có nghĩa là Đức Giêsu phủ nhận giá trị của Luật hay coi thường! Không! Chúng ta nên nhớ rằng: Đức Giêsu đến, Ngài không bao giờ bỏ một chấm một phết nào của Luật, nhưng Ngài kiện toàn nó và mặc cho nó một tinh thần mới, đó là tinh thần yêu thương.
Là kitô hữu, bài học của Đức Giêsu cho các Pharisêu và Kinh sư khi xưa cũng chính là bài học cho mỗi chúng ta hôm nay. Hãy sống hài hòa giữa cái bên trong và bên ngoài chứ không chỉ vụ Luật, tức là hình thức, phô trương mà bên trong thì rỗng tuếch. Hãy sống thật tâm chứ đừng giả dối. Thương người mà không có tâm tốt thì là một sự thương hại và xúc phạm, vì thế đáng nguyền rủa.
3.     Quét rác tư tưởng.

Rác làm bẩn môi trường ; tư tưởng sai lạc làm nhơ bẩn cuộc sống, hồn bốc mùi hôi! Mà nhiều linh hồn hôi thối, thì làm cho môi trường tỏa ra mùi tử khí. Bởi vì tư tưởng hướng ra hành động : Tư tưởng tốt hành động tốt, suy nghĩ, nói bậy sinh ra hành động gian ác!

Rất nhiều người Biệt phái (Pharisêu) cùng các kinh sư cẩn thủ giữ tập tục tiền nhân, như để giữ cuộc sống không bị nhơ, thì phải tránh ăn thịt heo, không ăn huyết, con vật chết ngột… (x Dnl 14,3-21).
Trong khi đó Kinh Thánh cho biết: “Mọi vật Chúa dựng nên đều tốt lành, không có gì phải loại bỏ, nếu biết tạ ơn mà dùng” (1Tm 4,4).
Thế mà một số Pharisêu và kinh sư đến đặt câu hỏi với Đức Giêsu : “Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân, không chịu rửa tay khi dùng bữa?
Đức Giêsu trả lời: “Hãy nghe và hiểu cho rõ: Không phải cái vào miệng làm cho con người ra ô uế, nhưng cái từ miệng xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế.” (Mt 15,2.10-11 : Tin Mừng).
Vì “từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu : tà dâm,trộm cắp, giết người, trong khi đó các ông cứ cố thủ truyền thống của cha ông lấy làm thánh giáo mà gạt bỏ Lời Thiên Chúa, lại còn làm nhiều điều khác giống như vậy” (x Mc 7,21.13), trong đó có nhiều điều hoàn toàn nghịch với Giáo Lý của Chúa.
Sống Lời Chúa:

+  Trong các nhân đức, thì đức ái giống như mặt trời giữa các tinh tú, đem ánh sáng của mình truyền cho các nhân đức khác (Thánh Franciscus de Sales).
+  Biết điều tốt mà không làm thì có tội (Gc 4,17).
+  Đoán ý muốn người khác để phục vụ giống Mẹ Maria (Lc 1,39t ; Ga 2,3).
+  Cha Ta hằng làm việc, Ta cũng thế (Ga 5,17).
+ Có nóng giận thì sao cho đừng mắc tội, chớ để mặt trời lặn mà cơn giận chưa tan (Ep 4,26).
+   Có ác thì như con nít thôi (1Cr 14,20).
+  Sự nóng giận của người ta không làm nên sự công chính của Thiên Chúa (Gc 1,20).
+  Chớ để sự dữ thắng được ngươi, nhưng hãy lấy lành mà thắng dữ (Rm 12,21).

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn mặc lấy tâm tình của Chúa trong khi giữ Luật, tinh thần đó là đi vào trong trái tim Chúa và sống chan hòa với nhau.
Lẽ sống:
Tha nhân không là hỏa ngục

Có một chàng thanh niên khao khát trở thành một thánh nhân. Chàng xin vào một dòng tu. Không mấy chốc, chàng khám phá ra tính tình nóng nảy của mình. Nhưng thay vì tìm căn nguyên nơi mình, chàng quy trách cho những người xung quanh. Tha nhân đã trở thành hỏa ngục đối với chàng.

Sau cùng, không còn chịu nổi đời sống tập thể nữa, chàng nghĩ có thể tìm thấy sự yên tĩnh trong sa mạc. Thế là chàng đã lên đường tìm đến một nơi hoang vu vắng vẻ để cắm lều sống đời ẩn sĩ. Mà thật thế, chàng đã tìm lại được sự thanh thản trong tâm hồn...

Tuy nhiên, sự bình an trong cô quạnh ấy không kéo dài được. Ma quỷ đã kéo đến và chúng đã gây xáo trộn trong căn lều xinh xắn của chàng. Không còn giữ được bình tĩnh, chàng đã nổi tam bành và đạp đổ tất cả...

Sau cơn giận dữ, trở lại trạng thái bình thường, chàng mới hồi tâm suy nghĩ: Tôi đã bỏ lại tu viện các anh em của tôi, nhưng tôi lại mang chính tôi vào sa mạc. Không phải anh em tôi là căn nguyên của đau khổ của tôi, nhưng tính tình của tôi mới là đầu mối của mọi đổ vỡ...

Chúng ta được sinh ra trong một gia đình, chúng ta được mời gọi để sống trong xã hội. Tha nhân không phải là một trở ngại, nhưng chính là một trợ giúp để chúng ta phát triển nhân cách và thành toàn.

Tất cả mọi căn nguyên chính của thất bại và thành công đều nằm trong ta. Cuộc chiến cam go nhất và liên lỉ nhất của chúng ta, chính là chiến đấu chống lại bản thân chúng ta. Xã hội có thể thay đổi, cuộc sống có thể tốt đẹp hơn nếu chúng ta biết cải thiện con người của chúng ta trước.

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

Lời Chúa: thứ Hai XVIII Thường Niên Năm A. 04.8.2014

PHÚC ÂM:   Mt 14, 22-36
"Tin tưởng vào Chúa".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Sau khi dân chúng được ăn no nê, Đức Giêsu liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi riêng một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình. Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả cây số, bị sóng đánh vì ngược gió. Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy!”, và sợ hãi la lên. Đức Giêsu liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” Ông Phêrô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài”. Đức Giêsu bảo ông: “Cứ đến!” Ông Phêrô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giêsu. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” Đức Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông và nói: “Hỡi kẻ kém lòng tin! Sao lại hoài nghi?” Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng. Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!”
Khi qua biển rồi, thầy trò lên đất liền, vào Ghennêxarét. Dân địa phương nhận ra Đức Giêsu, liền tung tin ra khắp vùng, và người ta đem tất cả những kẻ đau ốm đến với Người. Họ nài xin Người cho họ chỉ sờ vào tua áo choàng của Người thôi, và ai đã sờ vào thì đều được cứu chữa.
Suy niệm:
Trong cuộc sống, nơi xã hội hôm nay luôn có những bất trắc. Nào là chuyện "cá lớn nuốt cá bé"; hay "ma mới bắt nạt ma cũ"; hoặc "chân lý thuộc về kẻ mạnh". Một xã hội như thế, người ta lấy thước đo để đánh giá vấn đề, sự kiện... dựa vào tiền và quyền... Vì thế, không lạ gì khi vẫn còn đó tình trạng áp bức, bất công với người lương thiện và thấp cổ bé họng!

Đứng trước thực trạng ấy, chúng ta không thể không đặt ra câu hỏi: "Thiên Chúa ở đâu?"; "Ngài có thực sự hiện hữu không?"; "Nếu có, tại sao lại có chuyện con người thay Trời hành đạo như vậy?".

Hôm nay, bài Tin Mừng tường thuật việc các môn đệ đang trên thuyền để đi sang bờ bên kia. Trong lúc các ông trèo thuyền ra xa, thì gió lớn nổi lên, khiến các ông lo sợ. Đúng lúc đó, Đức Giêsu hiện đến mà các ông không nhận ra Ngài. Vì thế, trong cơn hốt hoảng, các ông đã la lên: "Ma đấy". Thấy vậy, Ngài đã trấn an các ông và nói: "Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!". Tuy nhiên, chưa tin và vẫn còn nghi ngờ, nên Phêrô đã thử liều một phen mang tính thách thức: "Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài".

Sự kiện Đức Giêsu đi trên mặt biển để đến với các môn đệ và việc cho Phêrô đi trên mặt nước với Ngài giúp cho chúng ta hiểu rằng: Chúa vẫn luôn còn đó trong cuộc đời. Mọi khó khăn thử thách, Ngài luôn có mặt, chỉ có điều chúng ta có một đức tin đủ mạnh để vượt qua mọi khó khăn và có đủ độ nhạy bén để nhận ra Ngài hay không mà thôi!

Hôm nay, phụng vụ Giáo Hội mừng kính cha thánh Gioan Maria Vianney linh mục, bổn mạng các cha xứ. Thánh nhân là người đã thể hiện niềm tin của mình vào Thiên Chúa cách tuyệt đối và có một đời sống khiêm nhường thẳm sâu, nên ngài đã luôn nhận ra Chúa hiện diện trong cuộc đời mình mọi nơi, mọi lúc. Vì thế, khi bị vị giáo sư mắng: "Vianney, anh dốt đặc như con lừa. Với một con lừa như anh, Giáo Hội hy vọng làm nên trò trống gì?". Nhưng vì ý thức sự bất toàn của mình, Vianney đã khiêm tốn, bình tĩnh trả lời: "Thưa thầy, ngày xưa Samson chỉ dùng một cái xương con lừa mà đánh bại 3 ngàn quân Philitinh. Vậy với cả một con lừa này, Thiên Chúa không làm được việc gì sao?".

Quả thật, niềm tin của thánh nhân đã được Chúa chúc phúc và dành tặng cho ngài một món quà vô cùng quý giá, đó là các linh hồn. Từ một xứ đạo khô khan, biếng nhác, không tha thiết việc đạo nghĩa, lại càng không thích sự hiện diện của các linh mục... Tuy nhiên, nhờ đời sống cầu nguyện, đạo đức và hy sinh của thánh nhân, họ đã xưng tội, bỏ đàng tội lỗi để trở về với Chúa và sống với nhau trong tình huynh đệ.

Thật vậy, không có việc gì mà Thiên Chúa không làm được. Chỉ có điều chúng ta có tin hay không, hoặc qua các biến cố đó, chúng ta có khám phá ra thánh ý của Thiên Chúa và thi hành hay chỉ ngồi đó để than thân trách phận, nghi ngờ, và thậm chí chỉ trích cả Thiên Chúa...?

Sứ điệp Lời Chúa và cuộc đời của cha thánh Gioan Maria Vianney dạy cho chúng ta bài học: nếu có niềm tin và tín thác vào Chúa trong sự khiên tốn thì sẽ được Chúa thương.

Mong sao trong mọi hoàn cảnh, chúng ta hãy nhớ đến câu nói của Đức Giêsu khi xưa: "Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!".

Lạy Chúa Giêsu, cuộc đời của chúng con nhiều khi hoang mang và sợ hãi chẳng kém các môn đệ của Chúa là bao. Nhưng như các môn đệ, các ngài đã tin vào Chúa và được Chúa cứu, thì xin cũng ban thêm đức tin cho chúng con, để chúng con cũng được Chúa thương như các môn đệ khi xưa.
Sống Lời Chúa:
+ Đức Giê-su liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ.” (Mt 14,27)
+ Khi người ta không tin ở lòng tốt của con người, thì làm sao có thể tin tưởng ở lòng tốt của Thiên Chúa?
+ Là hình ảnh của Chúa chúng ta phải biết chạnh lòng thương xót anh em.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, cuộc đời của chúng con nhiều khi hoang mang và sợ hãi chẳng kém các môn đệ của Chúa là bao. Nhưng như các môn đệ, các ngài đã tin vào Chúa và được Chúa cứu, thì xin cũng ban thêm đức tin cho chúng con, để chúng con cũng được Chúa thương như các môn đệ khi xưa.
Lẽ sống:
Sức mạnh Của Thiên Chúa

Ðược biết đến và được yêu mến như cha sở họ Ars, cha Gioan Maria Vianney, vị thánh được giáo hội mừng kính hôm nay, là một trong những người làm chứng về lời thánh Phaolô đã nói: "Thiên Chúa đã chọn những người không ra gì, để làm rối loạn những người mạnh mẽ".

Năm 1815, thầy Gioan được truyền chức linh mục.

Sau ba năm tập sự dưới sự hướng dẫn của cha Balley, cha Gioan được chỉ định đến xứ Ars. Trên đường đi nhận họ đạo, khi đi đến khúc đường chật hẹp, cỏ mọc ngụp đầu người, giữa lúc không còn biết hướng đi, cha Gioan đã dừng lại hỏi cậu bé mười tuổi tên Anton đang chăn cừu gần đấy. Cậu bé lịch sự chỉ lối cho cha.

Ngày nay tại nơi đây, dân làng Ars đã dựng một tượng đài để kỷ niệm cuộc gặp gỡ này, gồm có tượng đồng diễn tả thánh Gioan Vianney đang đứng trò chuyện với cậu Anton, một tay ngài đặt lên vai cậu, một tay chỉ lên trời. Dưới chân tượng, người ta ghi câu cám ơn của thánh nhân: "Cám ơn con đã chỉ cho cha đường đi tới Ars. Rồi đây, cha sẽ chỉ cho con đường về Thiên Ðàng".

Thực ra, cha Gioan đã không những giữ lời mình đã hứa chỉ đường cho một mình em Anton về quê Trời mà thôi, nhưng cho cả giáo xứ Ars và trăm ngàn người khác từ khắp nơi kéo đến hành hương, để được xưng tội và được hướng dẫn trở về đường ngay nẻo chính.

Ý thức bổn phận của linh mục là dấn thân phục vụ cho đàn chiên, cha Gioan đã hoạch định cho mình một chương trình sống, một chương trình chúng ta có thể gói gém vào ba hoạt động chính sau đây: Nếp sống khắc khổ hy sinh, tôn sùng Phép Thánh Thể và thi hành việc mục vụ qua lời giảng dạy cũng như trong tòa Giải Tội.

Ðể thi hành việc mục vụ, cha Gioan đã cho tha nhân thời giờ của mình: Mỗi ngày cha chỉ dùng 2 hay 3 giờ để nghỉ ngơi lấy sức. Giờ còn lại cha dùng để cầu nguyện và giải tội.

Quỳ lâu trong nhà thờ vào lúc canh khuya, cha Gioan duyệt lại trước Thánh Thể hoàn cảnh của tất cả 230 tín hữu trong họ đạo Ars, từng người một, từng nhu cầu của mỗi người.

Ngoài ra, mỗi ngày vào mùa đông lạnh lẽo, cha Gioan giải tội trung bình khoảng 11 hay 12 tiếng đồng hồ. Vào mùa hè, có khi ngài sử dụng đến 16 giờ để giao hòa các hối nhân lại với Thiên Chúa.

Cha Gioan thường gọi những giờ giải tội lâu dài này là "Giờ của Thiên Chúa". Trong suốt 41 năm mục vụ, cha Gioan có dịp nghe những tội lỗi của con người, những vấn đề, những khó khăn của trần gian. Ðể xoa dịu, mỗi sáng bước lên bàn thờ dâng Thánh Lễ, cha mang theo hết mọi ý nguyện, mọi hoài bão cũng như mọi yếu đuối, mọi lỗi lầm của toàn dân, để xin Thiên Chúa thanh luyện, cải hóa. Qua đó, tòa giải tội trở nên như một giếng nước trong lành, nơi giáo dân đến múc lấy Tình Thương Yêu của Thiên Chúa.

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014

Lời Chúa: Chúa Nhật XVIII TN - năm A. 03.8.2014

PHÚC ÂM:   Mt 14, 13-21
"Mọi người đều ăn no".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy Chúa Giêsu nghe tin Gioan Tẩy Giả đã chết, thì Người rời bỏ nơi đó, xuống thuyền đi đến nơi hoang địa vắng vẻ. Dân chúng nghe biết, thì từ các thành phố đi bộ theo Người. Ra khỏi thuyền, Người thấy dân chúng đông đảo, thì thương xót họ, và chữa những người bệnh tật trong họ.

Chiều tới, các môn đệ đến gần thưa Người rằng: "Đây là nơi hoang địa, mà giờ đã chiều rồi, xin Thầy giải tán dân chúng, để họ vào các làng mạc mà mua thức ăn". Nhưng Chúa Giêsu nói với các ông rằng: "Họ chẳng cần phải đi, các con hãy cho họ ăn". Các ông thưa lại rằng: "Ở đây chúng con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá". Người bảo các ông rằng: "Hãy đem lại cho Thầy".

Khi Người đã truyền cho dân chúng ngồi trên cỏ, Người cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ, các ông này phân phát cho dân chúng. Mọi người đều ăn no. Và người ta thu lượm được mười hai thúng đầy những miếng bánh vụn. Số người ăn là năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và con trẻ.
Suy niệm:  Qua đoạn Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã quan tâm đến cái đói cái khát, cũng như đến những khổ đau, bệnh tật là những sự kiện rất bình thường của thân phận con người. Từ đó chúng ta ghi nhận được những khác biệt cần suy nghĩ.

Bánh hằng sống.  Là người Công Giáo ai cũng phải hiểu phép lạ Đức Giêsu hóa bánh nuôi dân là dấu chỉ về Bí tích Thánh Thể. Khi thiết lập Bí tích này, Đức Giêsu không muốn cử hành một mình, mà Ngài muốn mọi người Công Giáo phải cộng tác, đặc biệt là các chủ chăn trong Hội Thánh.

Thực vậy, nếu Đức Giêsu muốn biểu lộ sự toàn năng và tình thương của Ngài để dân khỏi đói, thì Ngài có thể khiến bánh từ trời rơi xuống như xưa Chúa đã mưa manna nuôi dân (x Xh 16), hoặc Ngài có thể bảo mỗi người cầm cục đá giơ lên để Ngài làm phép hóa bánh ăn no thỏa, nhưng Ngài đã không làm thế, mà Ngài đã bảo các môn đệ : “Không cần phải bảo dân đi đâu mua bánh, chúng con hãy cho họ ăn đi” (Mt 14,16).

Lúc ấy các môn đệ cũng đang thiếu thốn vì trong Nhóm, cả Thầy trò 13 người chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá, thế mà Đức Giêsu lại muốn các ông khi đã được nghe Lời Thầy giáo dục, nuôi dưỡng, thì phải đặt nhu cầu đồng loại trên nhu cầu của mình.

Trong khi đó chẳng có Luật nào đòi buộc người đang túng thiếu lại phải giúp đỡ  người khác, chấp nhận  mình chịu đói ! Tuy nhiên lúc nghèo mà biết chia, thì khác nào bà góa đang túng thiếu chỉ có hai đồng tiền kẽm đã dâng hết vào Đền Thờ, nên được Đức Giêsu khen trước mặt các môn đệ : “Thầy bảo thật anh em : bà góa nghèo này đã bỏ vào  nhiều hơn ai hết.

Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng ; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (x Lc 21,1-4) ; và đó cũng là lý do tác giả Tin Mừng Nhất Lãm trước khi ghi lại phép lạ Hóa Bánh, các ông đều nhắc đến sự cố ông Gioan Bt vì bảo vệ chân lý : phản đối vua Hêrôđê cướp vợ anh mình, nên bị chém đầu! (x Mt 14,3t ; Mc 6,17t ; Lc 9,7t) là hữu ý báo trước việc Đức Giêsu và các môn đệ nhịn ăn mới có bánh chia, thì sau này cả Thầy trò phải mất mạng vì Tin Mừng, lúc đó mới có Bánh Hằng Sống nuôi hết mọi người chẳng bao giờ phải đói khát, nhưng được sống dồi dào hạnh phúc như Thiên Chúa (x Ga 6,32t).

Đó mới thực là phép lạ vĩ đại, hơn phép lạ chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá nuôi trên 5.000 người đàn ông không kể đàn bà con nít mà vẫn còn dư 12 thúng miếng bánh vụn! (x Mt 14,19-21).

Bánh giữa đời thường. Phép lạ nhân Bánh ra nhiều không dừng lại ở việc Bẻ Bánh tại nhà thờ, mà còn phải đựơc tiếp tục kéo dài trong cuộc sống: bẻ ra, trao đi và hóa nhiều.

Đừng sợ tấm bánh bị bẻ ra và cho đi sẽ bị hao hụt và không còn đủ phần bánh cho mình và người thân: Nếu các môn đệ xưa cũng nghĩ như vậy và không chịu trao cho Đức Giê-su năm chiếc bánh và hai con cá thì số bánh cá đó vẫn chỉ có bằng đó. Nhưng nhờ quảng đại trao cho Đức Giê-su, để Người bẻ ra trao lại cho các ông để các ông chia cho dân chúng mà bánh đã được nhân ra nhiều.

Ngày nay cũng có nhiều người đang cần các thứ bánh vật chất và tinh thần: bánh công lý, bánh yêu thương, bánh cảm thông tha thứ và phục vụ. Đừng ngại khi phải hy sinh nhiều. Nếu bạn dám bẻ đôi những gì bạn có thì chắc thế giới này sẽ không còn người đói, mà tất cả sẽ được no nê bánh ăn vật chất và còn được no đầy cả bánh tinh thần là sự bình an, niềm vui, hạnh phúc và hy vọng.

Bánh bởi Trời mang lại sự sống đời đời, biến con người thành các chứng nhân của tình yêu Thiên chúa đối với từng anh chị em một. Người trao cho chúng ta, để chúng ta phân phát cho những ai đói khát tình yêu. Như thế, tình yêu tùy thuộc vào chúng ta và phép lạ của tình yêu giữa con người với nhau sẽ không bao giờ dừng lại.

Làm sao con người có thể trách cứ Thiên Chúa không cung cấp thức ăn cho mọi người đang khi mỗi năm người ta tiêu hủy hàng triệu tấn thức ăn mà thông tin đại chúng nói là quá nhiều hầu phòng chống sự giảm giá thức ăn? Có giải pháp nào chăng ? Sự phân phối càng tốt thì tình liên đới càng lớn và sự chia sẻ càng nhiều.

Báo chí ngày nay cũng cho biết, chưa bao giờ con người có nhiều của cải như thế. Ông Bill Gates tỷ phú người Mỹ, có tài khoản tại các ngân hàng trên thế giới tương đương với thu nhập quốc dân của 40 nước nghèo; Một tên lửa được Mỹ bắn lên đốt cháy hàng tỷ đô la. Chiến tranh tiêu huỷ biết bao tiền của, bao sinh mạng con người. Ấy vậy mà, chưa bao giờ có nhiều người nghèo đói như ngày nay.

Tại sao có sự chênh lệch giầu nghèo trên thế giới như thế. Sở dĩ như vậy chỉ tại chúng ta giữ chặt lấy bánh và cá và không muốn chia sẻ với mọi người đó thôi. Thay vì tích luỹ làm giầu, chế tạo súng ống chạy đua vũ trang, thì con người chế tạo ra bột mỳ, lương thực, thuốc men để giúp cho đồng loại đỡ khổ thì tốt biết bao.

Sống tiết kiệm.
ü Tiết kiệm khác với hà tiện, keo kiệt, bủn xỉn.

Tiết kiệm là biết sử dụng một cách hợp lý, đúng mức của cải vật chất, thời gian, sức lực của mình và của người khác. Tiết kiệm thời gian, tiết kiệm công sức, tiết kiệm tiền của.

Người Ý nói: Sự sung túc có được do hai bàn tay. Bàn tay này là tài năng, bàn tay kia là tiết kiệm. Người Thổ Nhĩ Kỳ bảo: Người ta trở nên giàu có, đó là do cần cù lao động và biết tiết kiệm trong chi tiêu.Tại nơi mở trương mục tiết kiệm ở các ngân hàng, người ta thường vẽ hình con gà mái ấp quả trứng vàng, có ý muốn nói những đồng tiền tiết kiệm bỏ vào đó sẽ sinh nhiều lợi lộc, sẽ đem lại cho chủ nhân những trái trứng bằng vàng.

ü Tiết kiệm đi chung với giản dị.

Sống giản dị là sống phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của bản thân, gia đình và xã hội. Người giản dị thì không xa hoa, không lãng phí, không chạy theo những nhu cầu vật chất và hình thức bề ngoài. Sống giản dị sẽ tiết kiệm được thời gian, tiền của, công sức để làm những việc có ích cho bản thân, cho gia đình và xã hội. Người tiết kiệm sẽ biết sống giản dị phù hợp với hoàn cảnh bản thân, gia đình, xã hội.

Việc nhỏ mà mỗi người chúng ta có thể thực hiện dễ dàng trong cuộc sống thường nhật, đó là sử dụng điện, nước, của cải vật chất một cách hợp lý, biết dùng thời gian vào những việc có ích và biết gìn giữ của công.
Sống Lời Chúa:
+  Cuộc đời sẽ đẹp biết bao nếu con người chỉ biết đối xử với nhau bằng những cử chỉ tế nhị và thân ái. Một cử chỉ nhỏ mọn đến đâu, nhưng nếu được làm với tất cả yêu mến sẽ không bao giờ qua đi.
+ Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu. (Pl 2,4-5).
+  Thiên Chúa yêu thương thì cũng phải biết chia sẻ tình yêu ấy cho anh chị em, vì tình yêu mời gọi tình yêu: “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con.”
Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh,nhưng còn nhờ mọi Lời miệng Thiên Chúa phán ra (Mt 4,4b).
+  Chúa thương rộng mở tay ban, đoàn con hết thảy muôn vàn thỏa thuê (Tv 145/144,16).
+  Mahatma Gandhi đã nói: “Theo quan niệm cá nhân tôi, tất cả chúng ta xét ý nghĩa nào đó đều là tên ăn cắp. Vì: ta có quá nhiều cái dư thừa không cần thiết, trong khi người anh em quanh ta còn thiếu thốn đang cần đến nó. Chúng ta có vật nào đó không cần, thì vật ấy chính là của ăn cắp mà chúng ta lấy từ những người nghèo cần đến nó”.
Cầu nguyện:

Lạy Mẹ Maria, xin mở rộng con tim chúng con, để chúng con biết sống yêu thương và chia sẻ với anh em đồng loại, đừng bao giờ vô tâm, hững hờ với những anh chị em ấy nữa, nhưng ân cần giúp đỡ, ủi an, và cầu nguyện cho họ trong tình yêu chân thành, hầu xây dựng một xã hội công bằng, huynh đệ, đầy ắp tình yêu thương Chúa.

Lời Chúa: thứ Bảy XVII Thường Niên Năm A. 02.8.2014

Phúc Âm: Mt 14, 1-12
“Vì đã trót thề
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Thời ấy, tiểu vương Hêrôđê nghe danh tiếng Ðức Giêsu, thì nói với những kẻ hầu cận rằng: “Ðó chính là ông Gioan Tẩy Giả; ông đã từ cõi chết trỗi dậy, nên quyền làm phép lạ mới tác động nơi ông.” Số là vua Hêrôđê đã bắt trói ông Gioan và tống ngục vì bà Hêrôđia, là vợ ông Philipphê, anh của nhà vua. Ông Gioan có nói với nhà vua: “Ngài không được phép lấy bà ấy.” Vua muốn giết ông Gioan, nhưng lại sợ đám đông, vì họ coi ông là ngôn sứ. Vậy, nhân ngày sinh nhật của vua Hêrôđê, con gái bà Hêrôđia đã biểu diễn một vài điệu vũ trước mặt quan khách, làm cho nhà vua vui thích. Bởi đó, vua thề là hễ cô xin gì, vua cũng ban cho. Nghe lời mẹ xui bảo, cô thưa rằng: “Xin ngài ban cho con, ngay tại chỗ, cái đầu ông Gioan tẩy Giả đặt trên mâm.” Nhà vua lấy làm buồn, nhưng vì đã trót thề trước khách dự tiệc, nên truyền lệnh ban cho cô. Vua sai người vào ngục chặt đầu ông Gioan. Người ta đặt đầu ông trên mâm, mang về trao cho cô, và cô ta đem đến cho mẹ. Môn đệ ông đến lấy thi hài ông đem chôn, rồi đi báo cho Ðức Giêsu.
Suy niệm:
Theo các sách Tin Mừng, Gioan bị giết trong khung cảnh một bữa tiệc. Đó là tiệc mừng sinh nhật Hêrôđê Antipas là tiểu vương vùng Galilê và Pêrê. Nếu thế, bữa tiệc này hầu chắc diễn ra ở Tiberias, một thành gần hồ Galilê, nơi Hêrôđê đặt trung tâm quyền lực của mình.
Gioan bị giết vì dám phản đối cuộc hôn nhân bất hợp pháp giữa Hêrôđê với bà Hêrôđia là vợ của Philíp, người anh cùng cha khác mẹ với mình. 

Chuyện ngoại tình của Hêrôđê bị Gioan Tẩy giả kết án là có thể hiểu được. Ngài không được phép lấy bà ấy” (c. 4). Lấy vợ của người anh em là phạm đến Luật Chúa (Lv 18, 16; 20, 21).
Gioan là một ngôn sứ không lùi bước trước sự bất công. Ông đã sẵn sàng bênh vực sự thật, dù ông biết cái giá phải trả. Hêrôđê đã dùng quyền lực để ép Gioan phải im miệng. bắt Gioan, xiềng lại và tống vào ngục. Chỉ vì sợ phản ứng của dân chúng mà Hêrôđê chưa muốn giết Gioan. Bữa tiệc sinh nhật của Hêrôđê hẳn có nhiều quan khách tham dự.
Chuyện cô công chúa như Salômê, con bà Hêrôđia, múa cho quan khách xem, là một chuyện lạ, nhưng vẫn có thể đã xảy ra. Không rõ vì cô xinh đẹp hay vì múa giỏi mà Hêrôđê ngây ngất (c. 6). Từ đó Hêrôđê không còn đủ sáng suốt, tỉnh táo, khi vội vã đưa ra một lời hứa kèm theo lời thề với cô. Cô muốn xin gì, nhà vua cũng thề hứa ban cho (c. 7).
Chúng ta thấy Hêrôđê đã tự đưa mình vào thế kẹt dại dột và nguy hiểm. Ông đã không lường được hậu quả của chuyện đó. Hêrôđia chỉ chờ cơ hội này để thanh toán kẻ dám phá hạnh phúc của bà. Bà đã xúi con gái xin ngay thủ cấp của Gioan, đặt trên mâm. 
Hêrôđê hẳn đã lặng người khi nghe cô bé xin điều ấy. Ông lấy làm đau buồn vì đây thật là chuyện không ngờ (c. 9).
Ông bị đặt trước một chọn lựa: giết hay không giết Gioan. Đám đông quan khách tạo một áp lực vô hình trên ông. Vì đã lỡ thề hứa trước mặt họ, nên ông không dám rút lại. Ông sợ rút lại sẽ bị mang tiếng là nuốt lời, và sẽ bị mất uy tín.

Hêrôđê đã chọn mình, chọn danh dự và cái ghế của mình hơn. Ông hy sinh Gioan để giữ được tiếng tăm và tình yêu với bà Hêrôđia.

Làm sao chúng ta có can đảm nhận ra mình sai lầm và dừng lại?
Làm sao chúng ta không bị cuốn từ tội này sang tội khác?
Rút lại một lời hứa có khi còn khó hơn giữ lời hứa ấy. Hêrôđê là người bị nô lệ bởi nỗi sợ, sợ Gioan, sợ dân, sợ quan khách… Đúng hơn là ông sợ mất chính mình, sợ người ta nghĩ xấu về mình.
Có những lúc chợt tỉnh ngộ, tôi vẫn ngần ngại không muốn nhận mình sai. 
Tôi không dám nhận lỗi, vì tôi muốn mình vẫn đúng.
Xin Chúa đưa tôi ra khỏi cơn mê muội của tôi.
Sống Lời Chúa:
+  Với tư cách là môn đệ Chúa Giêsu, chúng ta hãy để cho lời Chúa trở thành ánh sáng hướng dẫn suy tư và hành động của mình. Với tư cách là ngôn sứ của Chúa, chúng ta noi gương Gioan Tẩy Giả, can đảm bênh vực công lý, bảo vệ luật Chúa và tố cáo bất công gian dối, để xứng đáng trở nên nhân chứng cho Chúa giữa cuộc đời.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu mến yêu, xin cho chúng con biết sống có ích cho tha nhân và đừng bao giờ làm khổ anh em. Xin cho chúng con biết sử dụng hồng ân Chúa ban để ca tụng vinh danh Chúa luôn.
Lẽ sống:
Bất kỳ ai trong chúng ta cũng được Thiên Chúa ban cho đặc ân cao quý là có quyền tự do lựa chọn. Chúng ta được quyền chọn bất cứ điều gì, hành động thế nào, cư xử ra sao như chúng ta muốn. Nhưng chúng ta đừng quên phải sử dụng quyền đó như thế nào. Vua Hêrôđê đã cho mình quyền “tự do” của một ông vua, nghĩa là muốn làm gì thì làm, muốn giết ai thì giết. Nhưng đâu biết rằng chính lúc ông thực hiện quyền tự do ấy cũng là chính lúc ông bị ràng buộc bởi một sức mạnh khác; đó là lời thề và danh dự của ông trước mặt các khách dự tiệc.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết sử dụng quyền tự do mà Ngài đã ban tặng cho con trong ánh sáng của Lời Ngài.